Đỗ Phủ 杜甫
(712-770), Thịnh Đường
武 侯 廟
Phiên âm
Vũ
Hầu miếu
Di
miếu đan thanh lạc,
Không sơn thảo mộc trường.
Do văn từ Hậu Chủ,
Bất phục ngoạ Nam Dương.
Không sơn thảo mộc trường.
Do văn từ Hậu Chủ,
Bất phục ngoạ Nam Dương.
Dịch
nghĩa
Miếu
xưa nét vẽ xanh đỏ đã phai lạt,
Núi hoang vu cây cỏ mọc um tùm.
Còn nghe vẳng biểu xuất sư từ biệt Hậu Chủ,
Chẳng còn dịp trở về Nam Dương nằm khểnh.
Núi hoang vu cây cỏ mọc um tùm.
Còn nghe vẳng biểu xuất sư từ biệt Hậu Chủ,
Chẳng còn dịp trở về Nam Dương nằm khểnh.
Dịch thơ
Miếu Vũ Hầu
Miếu cũ sắc màu đã phai nhạt
Um tùm cây cỏ mọc núi hoang
Còn nghe lời biệt Lưu Hậu Chủ
Chẳng còn trở lại ngủ Nam Dương.
NGUYỄN AN BÌNH
______________________________________________________________
Nguyên chú: “Miếu
tại Bạch Đế tây giao” 廟在白帝西郊
(Miếu ở phía tây thành Bạch Đế).
Vũ Hầu là tước do Thục đế Lưu Bị phong cho Gia Cát Lượng, tự Khổng Minh, hiệu Ngoạ Long, người đất Dương Đô (quận Lang Nha, tỉnh Sơn Đông). Ông tị nạn về Kinh Châu, được Lưu Bị ba lần tới nhà tranh cầu cứu mới ra giúp, là người lắm mưu nhiều kế, giúp Lưu Bị khôi phục cơ đồ nhà Thục Hán. Khi Lưu Bị qua đời, ông hết lòng giúp Hậu Chủ là Lưu Thiện 劉禪, được phong tước Vũ Hương hầu 武鄉侯.
Vũ Hầu là tước do Thục đế Lưu Bị phong cho Gia Cát Lượng, tự Khổng Minh, hiệu Ngoạ Long, người đất Dương Đô (quận Lang Nha, tỉnh Sơn Đông). Ông tị nạn về Kinh Châu, được Lưu Bị ba lần tới nhà tranh cầu cứu mới ra giúp, là người lắm mưu nhiều kế, giúp Lưu Bị khôi phục cơ đồ nhà Thục Hán. Khi Lưu Bị qua đời, ông hết lòng giúp Hậu Chủ là Lưu Thiện 劉禪, được phong tước Vũ Hương hầu 武鄉侯.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét