CA KHÚC PHỔ THƠ
ĐÔI MẮT ĐÀ LẠTTHƠ NGUYỄN AN BÌNH, NHẠC DƯƠNG KỲ HIỆP
HÒA ÂM TIẾNG HÁT CA SĨ AI
MỜI CÁC BẠN CÙNG NGHE.
CA KHÚC PHỔ THƠ
ĐÔI MẮT ĐÀ LẠTCA KHÚC PHỔ THƠ
RỒI MAI AI CŨNG GIÀ
THƠ NGUYỄN AN BÌNH, NHẠC MỘC THIÊNG, HÒA ÂM TIẾNG HÁT CA SĨ AI
CA KHÚC PHỔ THƠ
NGÀY CỦA MẸ
THƠ NGUYỄN AN BÌNH, NHẠC LÊ PHƯỚC LONG. HÒA ÂM TIẾNG HÁT AI
MỜI CÁC BẠN CÙNG NGHE
CA KHÚC NHỮNG CÁNH CHIM KƠ TIA
THƠ NGUYỄN AN BÌNH, PHỔ THÀNH CA KHÚC NHẠC SĨ MỘC THIÊNG, HÒA ÂM AI VỚI TIẾNG HÁT AI DUY MINH-NGỌC ANH.
MỜI CÁC BẠN ĐỌC TRUYỆN NGẮN TRUYỀN KỲ:
H O A Đ À O V Ư Ờ N CŨThôi Hộ (1) đưa ngòi bút lông chấm vào nghiên mực một cách thong thả rồi nhẹ nhàng vuốt lên thành nghiên để mực đọng lại vừa đủ và lăn tròn để se đầu ngọn bút lại cho mảnh hơn, có như thế chàng mới vẽ được những nét nhỏ và sắc sảo, chàng đang thực hiện giai đoạn cuối của bức tranh: vẽ đôi mắt của thiếu nữ ở vườn đào mà chàng đã gặp năm ngoái trong trí nhớ của mình. Một bức tranh mà chàng bỏ nhiều công sức mong muốn nó trở thành một bức tranh tuyệt mỹ về một ý tưởng bắt đầu bằng một cảm xúc sâu xa trong lòng chàng: Bức tranh vẽ người con gái dưới cội hoa đào, à không mà cả một rừng đào thì phải đang thấp thoáng phía sau. Không biết đây là lần thứ mấy khi ngòi bút của Thôi Hộ vừa đặt lên bức tranh định điểm nhãn cho gương mặt thì bàn tay cầm bút trở nên run rấy không chủ động được, mà vẽ mắt không được thì xem như bức tranh bị bỏ đi phí bao công sức đã bỏ ra, chàng cũng không hiểu sao lại xảy ra tình trạng kỳ lạ như thế. Trong số các bạn học đồng song, các môn cầm kỳ thi họa thì chàng là người nổi tiếng với nét vẽ tài hoa, phóng khoáng nhất, nhiều bức tranh của chàng được nhiều người khen ngợi và được treo ở các nơi trịnh trọng nhất nay chỉ vẽ đôi mắt cho một bức tranh thôi cũng không xong thì còn ra thể thống gì nữa, chàng gác bút lên nghiên mực nhìn bức tranh một cách buồn bã.
Đây là bức tranh chàng vẽ thiếu nữ trong vườn đào mà tình cờ chàng gặp được trong lần du xuân năm ngoái ở phía nam thành Lạc Dương. Chàng không phải là người xứ kinh kỳ nhưng được thân phụ gởi gấm lên trọ nhà người quen ở Lạc Dương để sôi kinh nấu sử ở trường một danh nho có tiếng chờ ngày triều đình mở khoa thi hội. Chàng Thôi là một người thông minh sáng dạ, sống phong lưu thơ hay vẽ giỏi nhưng lại là một sĩ tử không may mắn chốn trường thi, chàng thi đến lần thứ hai rồi mà bảng vàng vẫn chưa được nêu danh. Buồn chán trong lòng nên nhân tiết thanh minh chàng theo bè bạn du xuân, mải mê ngắm phong cảnh đẹp chàng vô tình lạc bước vào một con đường nhỏ dẫn đến thôn Đào Hoa, chàng thấy trước mắt mình hiện ra một rừng hoa đào với cây cối xanh tươi đang rộn ràng khoe sắc giữa gió xuân thổi từ phương đông về.
Say sưa trước cảnh đẹp thiên nhiên của hoa đào, Thôi Hộ ghé lại một trang viên gõ cửa xin nước uống. Và người mang nước cho Thôi Hộ là một thiếu nữ độ tuổi trăng rằm, dáng người thanh tú mặt đẹp như hoa đào mới nở. Nàng mang nước mời Thôi Hộ uống còn mình thì e lệ đứng nép dưới cành đào. Giữa một khung cảnh của hoa đào khoe sắc thắm, thiếu nữ lại ửng hồng đôi má, miệng chỉ chúm chím cười như hoa đào che kín nụ kín đáo chẳng nói năng chi thì chàng trai trẻ chưa vợ như Thôi Hộ làm sao không đắm đuối nhìn, không biết có phải sắc hồng của hoa đào khiến khuôn mặt người đẹp hồng tươi lên hay ngược lại là đôi má hồng của thiếu nữ tỏa sắc hồng thắm tươi lên những nụ hoa đào mà cảnh thêm đẹp. Quả là hoa đẹp mà người cũng thật là đẹp! Thôi Hộ thấy mình đang sống trong cảnh thần tiên nào đó chỉ có trong truyện cổ tích mà thôi.
Trước cảnh vật tươi sáng, tinh khôi, đầy chất lãng mạn ấy đã ngay lập tức như một cú sét ái tình làm say đắm trái tim thư sinh Thôi Hộ. Tuy nhiên khi lí do xin nước uống đã hết, dù cảnh đẹp người xinh Thôi Hộ cũng thấy nếu đứng lại thêm nữa thì thành ra vô duyên nên đành bịn rịn giã từ người đẹp ra về mặc dù trong lòng đầy luyến tiếc. Công việc học hành thi cử lo cho tương lai sắp tới đã làm Thôi Hộ quên đi chuyện gặp gỡ người con gái đẹp ở Đào hoa trang. Một năm lại trôi qua, cũng nhân ngày hội du xuân, Thôi Hộ lần về chốn cũ, hoa đào vẫn rực rỡ trong tiết xuân ấm áp mà lòng chàng lại cảm thấy buồn bã không vui. Cảnh cũ vẫn còn đó, nhưng người xưa đã vắng bóng. Nhìn trang viên thì cửa đóng then cài, chỉ có hoa đào bạt ngàn rực rỡ vẫn đang mơn man trong gió như mỉm cười chào đón khách du xuân mà thôi. Thẫn thờ Thôi Hộ ngậm ngùi đề thơ trước cổng rồi ra về trong tâm trạng ngổn ngang trăm mối.
***
Đang suy nghĩ vẩn vơ, Thôi Hộ bước tới bàn nhìn chồng sách, định đọc một vài trang sách nhưng thôi, tâm trạng không vui thì đọc sách có thích thú được gì. Thời may có lá thư của một bạn đồng môn do người nhà mang tới mời sang nhà dự tiệc vui xuân, uống rượu ngâm thơ. Chàng vui mừng bảo người đưa thư về trước mình sẽ sang ngay. Chàng bước tới cuốn bức tranh bỏ vào ống tre đem theo hy vọng lúc ngâm vịnh có thể tìm được cảm hứng nào chăng để hoàn tất bức tranh người đẹp.
Qua đến nơi thì bàn tiệc đã bày biện sẵn, ba chàng thư sinh đồng môn Trương Tịch, Đào Minh, Giả Đảo đều đã có mặt, họ đang trò chuyện râm ran về một buổi bình thơ sắp diễn ra hay một bài thơ của ai đó mà trông gương mặt của mỗi người cỏ vẻ thật phấn khích. Thấy chàng bước vào, chủ nhà Trương Tịch lộ vẻ vui mừng bước tới ân cần nắm tay chàng:
– Bữa tiệc hôm nay mà thiếu huynh là mất vui hết một nửa.
Thôi Hộ vội đỡ lời:
– Huynh làm như đệ là người quan trọng nhất không bằng vậy.
Đào Minh nói thay bạn:
– Chẳng là hôm nay chủ nhân bày tiệc, nhân ngày xuân hãy còn cùng nhau uống rược đọc thơ cho vui. Huynh nổi tiếng là người làm thơ hay nhất thành Lạc Dương nầy ai mà không biết, không có huynh thì bữa tiệc nầy không xong rồi, tôi nói thế chư huynh thấy có đúng không nào?
Cả bọn cả cười, Thôi Hộ ngồi vào bàn tiệc cùng mọi người:
– Chư huynh khen đệ làm đệ rất cảm kích, chẳng phải các huynh cũng có những ngón nghề không ai sánh kịp hay sao? Tiếng đàn của Giả huynh Bá Nha còn không sánh bằng, còn nước cờ của Trương huynh khi xuất chiêu có ai đỡ nổi, nghề thuốc và thuật số của Đào huynh đã thật sự đến chỗ cao diệu rồi, đệ tiếc là không theo kịp các huynh rồi.
Cả bốn người cùng vỗ tay chúc mừng rồi nhập tiệc. Qua vài tuần rượu, Trương Tịch đề cập đến mục đích buổi tiệc tân xuân:
– Như đã nói trước với chư huynh, hôm nay chúng ta ngồi uống rượu, nhân ngày xuân chưa tàn, tửu hứng lâng lâng lòng người lay động, chúng ta hãy cùng đọc một bài thơ có liên quan đến tiết xuân để thưởng thức, chư huynh thấy thế nào?
– Uống rượu mà không đọc thơ thì thú vui mất đi một nửa. Đệ xin đề nghị lấy chủ đề hoa làm đề tài chính, đọc thơ mình viết hay thơ của người khác cũng được miễn là có từ hoa là được, các huynh nghĩ sao?
Giả Đảo cao hứng xin đọc trước:
Huyền Đô Quán Đào Hoa
Tử mạch hồng trần phất diện lai,
Vô nhân bất đạo khán hoa hồi,
Huyền Đô quán lý đào thiên thụ,
Tận thị Lưu lang khứ hậu tài
(Lưu Vũ Tích)
Tạm dịch:
Hoa Đào Trong Quán Huyền Đô
Bụi đỏ đường xanh chạm mặt người,
Chẳng ai dám nói mới đi coi,
Ngàn đào trong quán Huyền Đô ấy,
Trồng lúc chàng Lưu đã vắng rồi.
Cả bọn vỗ tay khen hay, Đào Minh hắng giọng nói đến lượt tôi đọc nhé, rồi chàng đọc ngay sau đó:
Xuân Mộ
Môn ngoại vô nhân vấn lạc hoa,
Lục âm nhiễm nhiễm biến thiên nha,
Lâm oanh đề đáo vô thanh xứ,
Thanh thảo trì đường độc thính oa.
(Tào Mân)
Tạm dịch:
Cuối Xuân
Không ai ngoài cổng hỏi hoa rơi,
Bóng chập chờn xanh khắp cuối trời
Giọng hót oanh rừng xa thẳm hết
Chỉ nghe tiếng ếch rộn ao ngoài.
Đọc xong, Đào Minh nhìn Trương Tịch cười nói:
– Đến lượt huynh rồi.
Trương Tịch cười nói tôi xin hầu các huynh vậy, rồi cất cao giọng đọc:
Xuân Tình
Vũ tình sơ kiến hoa gian nhụy,
Vũ hậu toàn vô diệp để hoa,
Phong điệp phân phân quá tường khứ,
Khước nghi xuân sắc tại lân gia
(Vương Giá)
Tạm dịch:
Sau Trận Mưa Xuân
Trước mưa, vừa thấy hoa phơi nhị,
Mưa tạnh còn trơ lá trụi hoa,
Ong bướm vượt tường bay lớp lớp,
Lại ngờ xuân thắm ở bên nhà
Đọc xong cả bọn nhìn Thôi Hộ, chàng đang lúng túng không biết đọc bài của ai, chợt nhớ đến bài thơ mình viết ở thôn Đào Hoa liền nói:
– Đệ cũng xin góp vui cùng chư huynh một bài vậy. Bài nầy đệ viết cách đây không lâu nhân dịp du xuân, có gì chưa hay chư huynh lượng thứ cho vậy.
Đề Đô Thành Nam Trang
Khứ niên kim nhật thử môn trung
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong
Tạm dịch
Viết Ở Phía Nam Thành Đô
Hôm nay năm ngoái cổng này,
Hoa đào soi ánh đỏ hây mặt người.
Mặt người đã ở đâu rồi?
Hoa đào nay vẫn còn cười gió đông
Mấy người bạn học vỗ tay khen hay, cả tình lẫn ý đều không chê vào đâu được, nỗi lòng như thấm vào từng cánh hoa đào run rẩy trước làn gió đông vô tình, đoạn hỏi chàng viết bài thơ trong trường hợp nào. Thôi Hộ bèn kể lại câu chuyện du xuân lạc vào thôn Đào Hoa gặp người con gái đẹp như hoa đào thế nào nhất nhất kể cho các bạn nghe.
Giả Đảo nhìn Thôi Hộ một lát rồi nói:
– Tình ý trong bài thơ huynh viết dành cho cô gái ấy thì đã rõ còn duyên nợ có hay không thì không thể nói trước được. Hình như huynh có tâm sự thì phải? Chắc phải nhờ Đào huynh bói cho một quẻ xem sao.
Thôi Hộ chợt nhớ đến bức tranh vẽ cô gái dưới gốc hoa đào còn đang lở dở, bèn mang ống tre lấy bức tranh cho các bạn xem đoạn nói không biết sao khi vẽ đến đôi mắt thì tay lại run lên, tâm thần bấn loạn. Các bạn đều lấy làm lạ, Đào Minh ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nhìn bạn nói:
– Tôi vừa bấm cho huynh một quẻ, ứng vào đường nhân duyên của huynh nhưng sao nó như một mây mù vừa hợp lại tan vừa tan lại hợp, chuyện nhân duyên của huynh thật khó đoán được nó xoay theo chiều hướng nào, theo tôi huynh hãy trở lại thôn Đào Hoa một chuyến thử xem, đường đi ngang qua Lam Kiều, sẽ có một chuyện lạ đang chờ huynh ở đó. Thôi huynh đi đi kẻo muộn.
Thôi Hộ cũng không biết chuyện gì nhưng nghe lời bạn từ giả lên đường. Trên đường qua cầu Lam thấy đang họp chợ, không khí mua bán ồn ào náo nhiệt, chợt thấy mọi người đang bàn tán xôn xao về một ông già kỳ lạ đang rao bán cành đào ở một góc chợ, điều đặc biệt là những đóa hoa đào trên cành nở rất đẹp và lớn gần gấp đôi hoa đào bình thường được trồng, giá lại cao ngất ngưỡng. Nhớ lời bạn chàng dừng lại xem. Trong chợ tiếng ông già vang lên:
– Ai hoa đào không? Hoa đào nầy rất linh thiêng hiệu nghiệm đem lại may mắn cho gia chủ: Ai cầu tài được tài, ai cầu lộc được lộc, ai cầu duyên được duyên, linh nghiệm vô cùng, mỗi hoa một lượng vàng.
Dân trong chợ nghe rao thì phì cười, bảo sao mắc thế liệu có linh nghiệm như lời nói không, có người lại chế nhạo ông già, nếu đúng như lời rao sao ông không để ở nhà mà hưởng bán chi cho thiên hạ hưởng phước thay mình. Ông già không nói gì trước những lời đàm tiếu dị nghị đó mà vẫn bình thản rao bán như cũ. Thôi Hộ thấy chuyện cũng lạ nhưng cảm thấy không liên quan đến mình hơn nữa muốn mua cũng không có tiền, chàng bước tới lấy trong túi vải mấy đồng tiền trao cho ông già:
– Ông lão ơi, tiểu sinh thật sự không đủ tiền để mua hoa đào giúp ông, tiểu sinh có mấy đồng tiền xin tặng ông uống nước vậy.
Ông già xua tay không nhận:
– Cám ơn công tử, lão không nhận đâu. Lão muốn đem cái may mắn đến cho mọi người xem ra không ai tin cả. Họ chê mắc ư? Với một lượng vàng để đổi lấy được tài lộc, tình duyên cho cả một đời xem ra lão bán còn quả rẻ. Thói đời người ta chỉ nghĩ đền cái lợi trước mắt chứ có ai nghĩ tới chuyện lâu dài đâu. Xem ra chỉ có công tử là người hiểu chuyện mà thôi. Tiếc thay tiếc thay.
Thôi Hộ từ giã ông già bán hoa định đi thì ông lão kêu lại:
– Ta xem ra công tử đang có chuyện cần phải đi. Nghĩ tấm lòng của công tử xin nhận một cánh hoa đào của lão, tin hay không tin sự hiệu nghiệm của nó tùy công tử vậy, sẽ có lúc công tử cần đến nó, xin hãy nhớ lời của lão.
Chàng chưa kịp nói lời nào, ông lão đã ngắt cánh hoa đào dúi vào tay chàng rồi đi thẳng. Bên tai chàng chỉ còn nghe câu hát của ông già mỗi lúc một xa:
Hoa Đào một cánh se duyên
Tơ hồng khéo buộc phỉ nguyền lứa đôi
Thôi Hộ đứng tần ngần nhìn theo ông lão, không hiểu ông lão muốn gởi gấm điều gì qua hai câu hát đó, ông hát cho vui hay ám chỉ chuyện của mình? Chuyện mà Đào Minh nói với mình có phải là chuyện nầy chăng?
Đi một đỗi nữa đến thôn Đào Hoa, khác với cảnh đìu hiu vắng vẻ tháng trước, chàng thấy nhiều người ra vào cổng trang viên, nét mặt lộ vẻ lo âu, vội vã, chàng ngạc nhiên chận một người thanh niên đang đi tới hỏi điều gì đang xảy ra, anh ta gạt ngang rồi cắm cúi vội vã đi. Tần ngần một chút chàng lại thấy một ông lão vẻ mặt phúc hậu bước ra cổng mặt buồn bã như đang chờ đợi điều gì chốc lát quay lưng định bước vào trong, Thôi Hộ bước nhanh tới hỏi thăm, ông lão nhìn chàng lắc đầu nói:
– Gia đình lão đang có chuyện buồn, công tử là người ngoài không nên quan tâm làm chi cho mệt lòng.
Thôi Hộ vẫn tha thiết hỏi nguyên do, ông lão đành phải nói:
– Con gái lão đang bệnh nặng, lão nhờ gia nhân đi khắp đang tìm người có tên Thôi Hộ, nếu không tìm được người nầy chắc tính mạng con lão nguy mất.
Chàng ngạc nhiên quá đỗi nói chính mình là Thôi Hộ. Ông lão sửng sốt nắm chặt lấy tay chàng hỏi có phải là người viết bài thơ dán trước cửa tháng trước phải không? Thôi Hộ gật đầu, ông lão bỗng rơi nước mắt:
– Công tử đã hại chết con gái lão rồi.
Rồi ông lão kể lại cho chàng nghe. Hôm thanh minh gia đình lão về quê để tảo mộ người thân, khi về nhà thấy có bài thơ dán trước cửa, ý tình thật tha thiết nhớ nhung, cô gái biết đó là bài thơ của người khách du xuân năm ngoái trở lại tìm nàng nhưng nàng đã vắng bóng nên để lại bài thơ gởi gấm niềm bâng khuâng thương nhớ. Đọc xong bài thơ, hiểu được tình cảm của chàng trai đối với mình, con lão buồn bã thở dài, hối tiếc cho duyên phận bẽ bàng của mình. Ngày qua ngày nó mòn mỏi đợi trông người khách năm nào trở lại nhưng vẫn vô vọng, dung nhan ngày càng tiều tụy, cuộc sống giờ như chỉ mành treo chuông mà thôi.
Thôi Hộ nghe chuyện thì ân hận vô cùng vì bài thơ mình viết mà thiếu nữ sắp chết mang theo mối tuyệt tình khôn khuôi. Chàng theo ông lão bèn bước vào trong quỳ xuống cạnh giường nàng, ôm lấy cái thi thể bắt đầu lạnh giá của thiếu nữ mà khóc lóc thảm thiết. Nước mắt của Thôi Hộ rơi xuống thi thể người con gái như minh chứng cho một tình yêu oan trái.
Chàng vô cùng đau xót khẽ gọi:
– Đào nương ơi! Ta là Thôi Hộ đây, Thôi Hộ đã đến với nàng rồi đây.
Cái xác khô héo mòn mỏi ấy vẫn bất động lạnh giá, chàng bỗng nhớ lời ông lão gặp ở Lam Kiều, lấy vội cánh hoa đào trong túi vải đặt lên ngực nàng, một lát sau kỳ lạ thay ngực nàng bắt đầu đập mạnh trở lại, cơ thể nóng dần lên, gương mặt đã thoáng nét hồng, chàng mừng quá lay gọi thiếu nữ nhưng không biết sao cô vẫn nằm im bất động không mở mắt, ông lão cũng mừng rỡ ngạc nhiên không kém. Thôi Hộ chợt nghĩ ra điều gì, bèn lấy bức tranh trong ống tre treo lên tường, xin người nhà chén nước để pha mực. Lần nầy thì ngọn bút lông của chàng chấm phá nhanh trên bức tranh, hoàn chỉnh phần khiếm khuyết của nó. Thật diệu kỳ khi đôi mắt trên bức họa vừa vẽ xong thì bức tranh sống động hẳn lên, cô gái đẹp như hoa đào trong tranh như nhìn chàng đang mỉm cười e lệ cũng là lúc cô gái nằm bất động trên giường bệnh như bỗng bừng tỉnh giấc nồng giống như mới trải qua một giấc ngủ dài, nàng từ từ mở mắt, khuôn mặt ửng lên màu hoa đào đầy sức sống. Thôi Hộ mừng rỡ vô cùng, quỳ xuống bên cạnh thiếu nữ, cầm lấy tay nàng run run nói:
– Cám ơn nàng đã sống lại, cám ơn nàng đã vì ta mà tỉnh giấc. Nàng biết ta nhớ thương nàng biết dường nào. Từ nay nàng cho ta được gần gũi chăm sóc nàng đến suốt cuộc đời nhé.
Cô gái để yên tay mình trong bàn tay ấm áp của Thôi Hộ gật đầu nhẹ, mặt ửng lên niềm hạnh phúc vô biên. Lúc đó Thôi Hộ mới hiểu được lời của Đào Minh, người chàng gặp ở Lam Kiều chính là Nguyệt Lão và cánh hoa đào là dây tơ hồng kết nối hai con người yêu nhau đến được gần nhau.
Hoa đào vườn cũ ngoài kia vẫn còn những cành hoa đang khoe sắc.
Một cuộc sống mới đang đón đợi đôi uyên ương phía trước.
NGUYỄN AN BÌNH
____________________________________________________________
(1) Thôi Hộ: (sinh vào khoảng trước sau năm 804 cuối thời Trinh Nguyên, đời Đường Đức Tông), tự Ân Công, người quận Bác Lăng, nay là Định huyện, tỉnh Trực Lệ. Lận đận trên đường thi cử, mãi đến năm thứ 12 niên hiệu Trinh Nguyên(796) mới đậu tiến sĩ, sau cùng làm đến tiết độ sứ Lĩnh Nam. Nguyễn Du trong Truyện Kiều có lấy sự tích nầy qua hai câu:
Trước sau nào thấy bóng người
Hoa Đào năm ngoái còn cười gió đông.
TRUYỆN NGẮN
CHÉN NGỌC TRƯƠNG CHI
*Nguyễn An Bình
Nợ tình chưa trả cho ai
Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan.
(Truyện Kiều-Nguyễn Du)
Vào
những ngày mùng một và ngày rằm mỗi tháng, bao giờ trường học của quan tư đồ Vương
Doãn cũng tấp nập môn sinh, vì đây là những ngày bình văn thường kỳ.Tháng thì bình
thơ, khi thì văn, phú, tế, biểu, đối…. Tất cả các loại văn cần thiết trong thi
cử điều được quan tư đồ ra đề để các môn sinh rèn tập và chuẩn bị từ trước đến đợt
bình văn đem ra thi thố và luận bàn. Quan tư đồ Vương Doãn từng giữ chức vụ cao
trong triều và từng là thầy dạy của đương kim hoàng thượng bây giờ. Nên khi ông
cáo lão từ quan về mở trường dạy học thì từ các bậc công hầu khanh tướng trong
triều cho đến các gia đình giàu có ở kinh đô đều mong muốn gởi gấm con cháu của
mình đến học cùng ông để có thể nên danh nên phận sau nầy. Ông dạy rất nghiêm
minh và cẩn trọng không hề thiên vị một môn sinh nào dù đó là con của quan to
chức trọng hay con của hoàng thân quốc thích đi chăng nữa, nhiều học trò ông đổ
đạt cao và có danh phận trong triều. Trước ngày bình văn ông đều yêu cầu các môn
sinh nộp quyển để ông chấm qua đó ông chọn chừng năm quyển được ông phê ưu đem
ra bình và chính tác giả của những quyền đó phải đọc cho các bạn đồng môn nghe
và lắng nghe lời những nhận định cũng như giải đáp những vướng mắc của các môn
sinh khác.
Lần nào cũng thế, trong năm quyển được chọn bao giờ cũng có quyển của
con trai quan ngự sử Trương Học Phi. Không phải quan tư đồ vị nể người môn sinh
ấy là con quan ngự sử, bạn thân của ông mà là tài học của chàng trai mười sáu
tuổi ấy thật nổi trội, văn chương lưu loát, lập luận sắc sảo mà lời bình văn thì
thật hấp dẫn, lôi cuốn.Trương Chi đối đáp rất linh hoạt, đầy sức thuyết phục.
Nhiều bạn đồng môn ganh với tài học của chàng tìm mọi sơ hở trong bài văn để đặt
câu hỏi nhằm bắt bí, hạ thấp chàng đều thất bại. Quan tư đồ đặt nhiều kỳ vọng vào
người học trò yêu quí của mình trong kỳ thi năm nay sẽ chiếm bảng vàng đem lại
vẻ vang cho ông và gia đình quan ngự sử. Nhưng một tai họa khốc liệt xảy ra đã
làm đảo lộn những dự tính tốt đẹp đó, một trận hỏa hoạn cực lớn đã thiêu rụi cả
ngôi nhà của quan ngự sử, già trẻ lớn bé không một ai sống sót chỉ trừ Trương
Chi. Dân chúng quanh vùng không hiểu vì sao ngọn lửa lại lan nhanh đến thế, có
người cho rằng trời cao không có mắt nên tai họa đổ xuống gia đình một viên
quan thanh liêm, chính trực, có người hiểu chuyện, chép miệng than: Đời nào cũng
thế, bọn tham quan ô lại đầy rẫy, chống lại nó, nó mà không chết thì mình phải
chết thôi. Vì cách đây không lâu quan ngự sử đã dâng sớ lên vua xin trị tội bảy
kẻ nịnh thần, tham quan nhất là sau vụ vỡ
đê ở sông Nhĩ Hà, bọn chúng đã ăn xén vật tư, kê khống ngày công nhân lực để bỏ
túi riêng, chia nhau làm giàu gây nên hậu quả nghiêm trọng khôn lường chẳng
những bòn rút ngân khố ngày càng khánh kiệt mà còn làm khổ lê dân bá tánh trăm
đường lầm than.
Việc điều tra nghi án vụ phóng hỏa giết người nhà quan ngự sử không đi đến
đâu vì triều đình không tìm được chứng cứ hay kẻ gian hùng đã xóa sạch mọi dấu
vết, thế lực quá mạnh chăng thì không ai biết, cuối cùng theo thời gian cũng trôi
vào quên lãng. Chỉ tội cho Trương Chi, mặc dù thoát chết trong cơn hỏa hoạn khủng
khiếp đó, nhưng khuôn mặt thanh tú của chàng hầu như bị hủy hoại hoàn toàn, cũng
may đôi mắt và thanh âm không bị hư tổn. Trương Chi được người chú ruột đem về
nhà chăm sóc, nuôi dưỡng gần một bến sông. Ông
nầy làm nghề chèo đò, đánh cá trên sông để sinh sống qua ngày. Sau mấy tháng chữa
trị thì Trương Chi cũng bình phục nhưng gương mặt không còn lành lặn như xưa, nó
biến dạng đến nổi chàng không còn muốn nhìn vào gương nữa. Để khỏi làm người khác hoảng sợ vì gương mặt dị dạng của
mình Trương Chi luôn đội chiếc nón rộng vành kéo sụp xuống, phía trước mặt được
che thêm một miếng vải mỏng sậm màu che khuất đi phần da mặt bị kéo nhúm lại vì
bỏng. Rồi người chú cũng qua đời, Trương Chi trở thành người lái đò, đánh cá độ
nhật trên sông từ đấy.
Làm bạn với chàng từ nay là con đò, hằng ngày lênh đênh trên sông nước để
mưu sinh, nỗi cô đơn buồn tủi với thân phận đắng cay nghiệt ngã Trương Chi chỉ
còn biết gởi gấm qua tiếng sáo, giọng hát của mình. May mắn ngọn lửa đã không lấy
mất những gì còn lại của chàng.Tiếng sáo vẫn du dương, đằm thắm, giọng hát vẫn mượt mà trôi chảy, có khác chăng
là giờ đây nó chất chứa nỗi buồn nhiều hơn vui và cũng từ đây trên bến sông nầy
người ta quen dần với một anh ngư phủ có tiếng sáo và giọng hát tài hoa làm say
đắm lòng người. Từ nay chuyện thi cử, danh hoa phú quí không còn vướng bận lòng
chàng, nó chỉ còn là những bọt sóng cuối bãi đầu ghềnh chiều hôm mà thôi.
Trên bến sông nầy có một dinh thự của viên quan thượng thư bộ hình Trần
Công. Ông cho xây dinh thự nầy để làm vui
lòng người con gái mà ông hết lòng yêu quí: tiểu thư Trần Mị Nương. Mị Nương tuổi
vừa đôi tám, nhan sắc xinh đẹp tuyệt vời, tính nết lại thùy mị đoan trang nên
nhiều gia đình quyền thế trong kinh thành cho người đến dạm hỏi, mai mối nhưng
nàng chưa nhận lời ai cả, quan thượng thư vì yêu con nên cũng không nài ép làm
gì. Không giống như những gia đình vọng tộc khác, nàng Mị Nương xinh đẹp ngoài
việc thêu thùa khéo léo, nàng còn được phụ thân mướn thầy về dạy học cho nàng nên
cầm kì thi họa môn nào nàng cũng am tường cả. Cảnh tấp nập chốn kinh thành làm
nàng mệt mỏi không vui nên quan thượng thư cất riêng cho nàng dinh thự gần bến
sông nầy, sống gần gũi với thiên nhiên, cây cỏ phù hợp với tâm tánh giản dị của
nàng. Một đêm trăng thanh gió mát, Mị Nương trằn trọc không ngủ được, nàng bước
ra hiên ngoài vọng lâu để ngắm trăng cho khuây khỏa thì từ xa phía bến sông tiếng
sáo cất lên lúc khoan lúc nhặt, chơi vơi, chất chứa nỗi buồn nhân thế đã làm
rung động tâm hồn của nàng tiểu thư con nhà đài các.Trái tim chưa hề biết rung động
của Mị Nương với nhạc khúc tình yêu đã bắt đầu xao xuyến. Trên bến sông vắng Trương
Chi vẫn thả hồn theo tiếng sáo u hoài.Tai họa đã cướp đi của chàng tất cả nhưng
đã bù đắp cho chàng tiếng sáo tài hoa đa cảm.Tiếng sáo cất lên nói thay lòng chàng,
như an ủi cuộc đời đầy nghiệt ngã mà chàng phải hứng chịu. Trương Chi đâu biết
rằng nơi lầu son gác tía ở bên sông kia đang có một cô tiểu thư xinh đẹp đang
say đắm thả hồn theo tiếng sáo của chàng.
Mị Nương nhờ nàng hầu nữ Nghi Xuân dò hỏi xem ai là người thường thổi sáo
trên bến sông ấy thì được biết đó là một chàng trai sống nghề hạ bạc tên Trương
Chi. Rung động trước tiếng sáo tài hoa ấy nàng muốn tìm gặp mặt nhưng nàng hầu
nữ Nghi Xuân cố sức can ngăn vì quan thượng thư biết được sẽ rất nguy hiểm và
ngăn cấm. Thấy chủ có vẻ không vui buồn bã nên Nghi Xuân bèn bày kế cho Mị Nương
nói dối quan thượng thư đi vãn cảnh rồi giả dạng nam nhân xuống bến sông mướn đò
đi du ngoạn để có dịp được nghe lại tiếng sáo tài hoa đó. Ngồi trên đò xuôi
theo dòng nước một lúc lâu chàng công tử họ Trần kia không biết phải bắt chuyện
từ đâu. Mùa nầy bông lau nở trắng cả triền sông, xa xa vài chiếc thuyền đánh cá
tung chài trên sông nước và màn sương còn lãng đãng trên đầu cây ngọn cỏ, phong
cảnh thật hữu tình. Công tử họ Trần cao hứng cất tiếng ngâm:
Khứ niên kim nhật thử môn trung
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Hai câu thơ trong bài Đề tích sở kiến xứ của
Thôi Hộ đời Đường. Ở câu thơ thứ hai chàng công tử họ Trần cố ý ngân dài ra chậm
lại rồi dừng hẳn. Không gian như chìm vào cõi không tịch mịch thì bỗng phía sau
mũi đò cất lên một tiếng ngâm đầy thanh tú:
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong.*
Cả hai thầy trò công tử họ Trần
cùng quay mặt lại mũi đò, cậu tiểu đồng Nghi Xuân cười lém lỉnh nhìn về cô chủ
như thầm khen tiểu thư nhà mình thông minh thật. Chàng công tử họ Trần lộ vẻ hân
hoan, hai tay cung kính trước mặt, hỏi người lái đò:
-Thì ra huynh cũng là người am hiểu thơ phú. Thành thật xin lỗi huynh, đệ
đã dám múa rìu qua mắt thợ rồi.
Người lái đò lật đật buông mái chèo, hai tay cung kính đáp lễ:
-
Xin công tử thứ lỗi
tôi đã làm mất nhã hứng ngâm thơ của công tử, thấy công tử dừng lâu quá bất giác
tôi đọc tiếp hai câu sau cho tròn nghĩa mà thôi.
-
Huynh là người có
học ,sao không cố chí học hành để mai sau vinh hiển lại làm nghề hạ bạc nầy?
-
Xưa thân phụ còn
sống có được cho học đôi ba chữ thánh hiền. Nay thân phụ mất nhà nghèo làm nghề
sông nước sống cho qua ngày, không dám mơ cao.
Công tử họ Trần đề nghị:
-
Nếu được phép đệ
có thể kết bằng hữu với huynh được chăng?
Chàng lái đò vội vã từ chối:
-
Tôi không xứng đáng
làm bằng hữu với công tử đâu, thân phận tôi nghèo hèn, công tử thứ lỗi cho.
Nhưng trước tấm chân tình của
chàng công tử họ Trần, Trương Chi không tiện từ chối. Cuộc gặp gỡ lần đầu của họ
là như thế, tuy chưa thật sự gần gũi, thân mật nhưng hình như đã có mối dây ràng
buộc họ như một định mệnh đã an bày.Hai người hẹn nhau mỗi tháng sẽ gặp mặt
nhau một lần. Chàng Trương thì thổi sáo, còn công tử họ Trần thì ngâm thơ.
Đôi lúc họ ra đề cho nhau cùng đối họa thơ phú,
trăm phần tương đắc. Từ ngày được kết bạn với Trần Công Tử, tiếng sáo của Trương
Chi không còn u oán, buồn bã nữa, tiếng sáo lại cất lên âm điệu réo rắt, yêu đời
như thuở chàng còn là môn sinh của quan tư đồ Vương Doãn.Trương Chi đã vẽ tặng
cho Trần công tử một bức chân dung với gương mặt thật xinh đẹp giống như một nàng
thiếu nữ diễm tuyệt, tay đang xòe quạt, trên thân quạt có đề bài thơ của Thôi Hộ như là kỷ niệm nhờ bài thơ mà hai người kết bằng
hữu với nhau. Nhìn bức tranh khi vẽ xong Trương Chi chợt ao ước phải chi Trần công
tử là gái nhỉ? Chỉ suy nghĩ đến đây thôi là chàng đã vội xua đi cái tư tưởng điên
rồ ấy ra khỏi đầu óc của mình. Riêng Trần công tử có vẻ thích bức tranh mỹ nam
nhân của mình lắm, đem về treo trong phòng ngắm nghía rồi tự hỏi: Nếu Trương
Chi biết mình là gái thì sao nhỉ? Chỉ nghĩ đến đó thôi Mị Nương đã ửng hồng đôi
má không dám nghĩ tiếp nữa. Nhiều lần gặp gỡ, ngâm vịnh trên đò Trần công tử dợm
hỏi xin được xem rõ mặt người bằng hữu của mình nhưng Trương Chi lại khéo léo từ
chối, lấy lí do mình bị dị dạng từ nhỏ nên không sợ làm hoảng hốt người khác.Thấy
chàng Trương từ chối quyết liệt nên Mị Nương thôi không đề cập đến nữa nhưng cứ
thắc mắc mãi. Những lần không có dịp gặp gỡ Mị Nương lại lên vọng lâu nhìn về bến
sông lắng nghe tiếng sáo của Trương Chi theo gió đưa về mà miên man nghĩ về mối
tình chớm nở lớn dần theo năm tháng của mình đối với chàng Trương mà mỉm cười hạnh
phúc.
Một hôm trong lần gặp mặt, đò đang xuôi theo dòng thì cơn dông bắt đầu ập
đến, Trương Chi vội quay mũi để tấp đò vào bờ, gió mạnh đã hất tung chiếc nón rộng
vành mà chàng đang đội. Hoảng hốt chàng vội với theo nắm giữ, nhưng không kịp nữa
rồi, chiếc nón đã rơi xuống sông, cùng lúc ấy là một tiếng kêu á đầy sửng sốt
kinh hoàng của Trần công tử. Vô cùng lo sợ,Trương Chi luống cuống lấy tay che mặt
quay lại nhìn. Trần công tử đã ngã nhoài xuống sạp gần như bất tỉnh, chiếc mũ đội
đầu văng mất hồi nào không biết, lộ ra mái tóc dài xỏa xuống bờ vai.Trương Chi
há hốc miệng, kinh ngạc:
- Trần công tử là…là…
Tên tiểu đồng Nghi Xuân trong cơn hoảng
loạn hét lớn:
- Trần công tử, Trần công tử cái gì? Đó là Trần tiểu thư con quan thượng
thư đó. Người chèo đò tấp vào bờ mau, kêu phu kiệu đưa tiểu thư về dinh để chữa
trị không nguy mất.
Thì ra khi cơn gió làm tốc chiếc nón rộng
vành hằng ngày che khuất gương mặt xấu xí của Trương Chi, Mị Nương đã kịp nhận
ra một gương mặt dị dạng, gớm giếc mà chàng cố gắng che giấu, sợ làm tổn thương
đến người khác, nàng hoảng hốt ngất đi vì sợ hãi. Chuyện không thể giấu được nữa
rồi, cái ngày mà Trương Chi lo sợ đã đến nhưng chàng không ngờ là nó đến nhanh
như vậy.
Suốt mấy ngày hôm sau Trương Chi lảng vảng
nơi cửa dinh quan thượng thư để dò la tin tức nhưng không được gì, cũng không
thấy con hầu nữ Nghi Xuân xuất hiện. Sốt ruột chàng lân la dò hỏi quân canh thì
bọn chúng xua đuổi chàng như đuổi tà. Thất vọng, mòn mỏi chàng quay về bến sông
nằm dài không thiết ăn uống, thân hình ngày thêm tiều tụy đáng thương. Hình ảnh
của Mị Nương luôn lởn vởn trong đầu óc của chàng. Chàng đã yêu Mị Nương từ bao
giờ.Từ khi kết bằng hữu với Mị Nương chàng luôn ao ước phải chi Mị Nương là gái
thì hạnh phúc biết bao, nhưng chàng quên rằng với gương mặt xấu xí, thân phận
thấp hèn của mình chỉ làm cho sự việc thêm tệ hại mà thôi. Chàng nghĩ đến cái
chết. Phải rồi, chỉ có cái chết mới giải quyết hết mọi việc. Rời xa thế giới đầy
ô trọc nầy là một giải thoát cho cả mình và Mị Nương.
Một buổi sáng lão ngư Lê Thái như thường
lệ đi chài lưới ngang qua chiếc đò của Trương Chi lấy làm lạ. Đã hai hôm nay rồi con đò vẫn nằm im một chỗ không dời
đi đâu.Thường lão đi ngang qua đã thấy Trương Chi thức từ lúc nào, pha ấm trà mới
mời lão uống một chén cho ấm bụng rồi mới đi chài. Lão cất gọi nhưng không ai
trả lời, lão khom người cúi xuống vén tấm sáo mỏng bước vào con đò. Trương Chi
nằm đó người lạnh tanh đã chết từ lúc nào, hai tay để lên ngực phía dưới có kẹp
một mảnh giấy. Lão đở nhẹ một cánh tay của Trương Chi lên, cầm mảnh giấy đọc.
Đó là bài thơ tuyệt mạng của chàng:
Bụi
trần chi vướng bận lòng nhau
Một tấm chân tình biết gởi đâu?
Tiếng sáo giao duyên tràn nỗi nhớ
Câu thơ ly biệt cạn thương sầu
Nửa vầng nhật nguyệt ngàn năm hận
Một khối u tình vạn kiếp đau
Tro bụi xin người hòa sóng nước
Ân tình chưa trọn hẹn mai sau.
Lão ngư Lê Thái thở dài. Lão thực hiện
theo nguyện vọng sau cùng của Trương Chi, đem thi hài của chàng đi hỏa táng rồi
đem tro cốt rải trên dòng sông mà hằng ngày con đò chàng ngược xuôi đưa đò và đánh
cá. Khi lấy tro cốt của Trương Chi đi rải sông lão ngư phát hiện trái tim của
chàng không tan thành tro bụi mà lại kết thành một khối đá cứng. Đem xuống sông rửa trôi đi những vết dơ bẩn bên ngoài,
viên đá lấp lánh màu đỏ huyết như viên ngọc. Lấy làm lạ lão bỏ viên đá ấy và bài
thơ tuyệt mệnh vào một cái hộp rồi cất đi.
Riêng Mị Nương sau cơn hoảng loạn đó nàng
nằm mê sảng cả tháng trời. Quan thượng thư ngày đêm mời thầy thuốc chữa trị bệnh
tình mới thuyên giảm. Họ nói tiểu thư bị tâm bệnh cần phải có thời gian lâu dài
mới hết được. Mỗi lần nhìn bức chân dung mà Trương Chi vẽ tặng mình mà Mị Nương
ứa nước mắt, nàng nhớ tiếng sáo của Trương Chi. nhớ những lúc cùng chàng ngâm vịnh
trên sông nước, nàng hiểu ra rằng nàng không thể sống thiếu chàng, chẳng qua là
khi thấy bộ mặt gớm giếc một cách bất ngờ, đột ngột làm cho tâm trạng nàng hoảng
hốt, đau khổ mà thôi. Mị Nương nhờ nàng hầu nữ Nghi Xuân đi dò la tin tức của
Trương Chi thì gặp lão ngư Lê Thái. Lão đã kể hết sự tình, đưa chiếc hộp đựng bài
thơ tuyệt mạng và viên tim đá cho Nghi Xuân đưa về cho tiểu thư của cô vì chính
Mị Nương mới là chủ nhân của chiếc hộp nầy chứ không phải lão, lão giữ cũng không
có ích lợi gì cả.
Đọc bài thơ tuyệt mệnh và viên tim đá
trong tay Mị Nương càng đau buồn hơn, lòng bồi hồi khôn tả. Nàng tự trách mình
trong giây phút nông nổi đã làm mất đi mối chân tình cùng Trương Chi, thế gian
nầy còn tìm đâu ra tiếng sáo tài hoa nhưng bạc mệnh ấy nữa.Thấy con có vẻ quý
viên ngọc đá, quan thượng thư cho người nhờ thợ kim hoàn chạm khắc thành một chén
ngọc vô cùng tinh xảo để tặng cho con. Ngày nọ Mị Nương rót trà vào chén ngọc,
bỗng nhiên dưới đáy chén hiện lên hình ảnh con đò, văng vẳng tiếng sáo vi vu như
kể lể nỗi nhớ nhung thương tiếc. Hình ảnh cũ lại ùa về, nàng bật khóc, những giọt
nước hối tiếc chân tình rơi vào chén ngọc.Trong lòng chén như có một làn khói xanh
mỏng xuất hiện càng lúc càng lớn dần.Cuối cùng cả chén ngọc hóa thành làn khói
xanh tan vào khoảng hư không mất dạng.
Mị Nương lâm trọng bệnh, ngày càng thêm
nặng.Trong cơn mê sảng nàng nghe như có tiếng sáo của Trương Chi rót vào tai, kể
cho nàng nghe bao nỗi nhớ nhung vì xa cách. Đêm
Mị Nương mất, người ta kể lại rằng có đôi hạc trắng bay từ dinh quan thượng thư
về phía bến sông nơi ngày trước hai người thường thổi sáo, ngâm vịnh thơ
phú đảo ba vòng, kêu vang lên ba tiếng rồi bay về hướng tây mất hút. Bức chân
dung treo trên tường cũng mờ dần nét vẽ rồi mất hẳn như chưa từng được ai đó đặt
bút vẽ lên bao giờ.
Tháng 6/2013
NAB
* Tạm dịch: Đề chỗ đã thấy năm trước
Cửa nầy, năm
ngoái, hôm nay
Hoa đào phản chiếu mặt ai
ửng hồng
Mặt
người giờ ở nơi nao?
Hoa đào vẫn đó, cười chào
gió đông (Thôi Hộ)
Trần Trọng San dịch
TẢN VĂN
NHỮNG VẦN THƠ YÊU THƯƠNG
*NGUYỄN AN BÌNH
Coi vậy mà đã hơn 10 năm con xa nhà. Ngày con đi mới 15 tuổi chỉ vừa bước chân vào lớp mười, cái tuổi mà ông bà xưa thường nói: Ăn chưa no lo chưa tới. Khi tin con nhận được học bổng Asean du học Singapore trong chương trình hợp tác giữa Việt Nam và đất nước bạn, ba mẹ vừa mừng vừa lo, mừng vì niềm vui con vượt qua bao bạn cùng trang lứa dự thi, vượt qua kỳ kiểm tra gắt gao về kiến thức lẫn trình độ ngoại ngữ để lấy được học bổng cao quý đó, lo vì con chưa từng xa nhà không biết có hòa nhập trong cuộc sống và học tập với bao nhiêu lưu học sinh ưu tú khác qui tụ về đây không?
Nghĩ đến việc xa con một thời gian dài, mẹ buồn và khóc. Con thấy mẹ khóc lòng chợt chùng lại thương mẹ và không muốn đi nữa: Vậy thôi con không đi nữa mẹ nhé. Họcở Việt Nam cũng tốt mà có sao đâu. Mẹ không nói gì chỉ đưa mắt nhìn ba như cầucứu. Ba thật sự rất nao lòng, nửa muốn giữ con lại nửa muốn cho con bay đi giữabầu trời cao rộng và ba đã nén lòng buông tay để con chim non mới ra ràng tậpbay bằng chính sức lực của mình. Ba nói với giọng nhẹ nhàng: Con ơi với đồnglương giáo viên eo hẹp của ba việc có đủ tiền cho con ra nước ngoài học tập là vượtquá tầm tay của ba mẹ, nay có được cơ hội hiếm có đó sao ta không bắt lấy chứ?Mẹ và con cũng hiểu được điều đó làm ba rất vui. Con có nhớ không, ngày tiễncon ở phi trường, khi con chuẩn bị lên máy bay với các bạn du học sinh cùng khóa, mẹ đã bật khóc, mắt con cũng đỏ hoe, ba quay mặt đi nơi khác che giấu cảm xúc của minh. Tánh ba là vậy, yêu thương con thật nhiều nhưng chưa bao giờ bộc lộ cảm xúc của mình vì ba luôn sợ mẹ và con bắt gặp giây phút yếu lòng của ba và ba chỉ biết trải tình cảm của mình vào thơ mỗi khi nhớ về con:
Ngày con đi căn nhà xưa bỗng vắng
Hàng cây khô chiếc lá rụng chớm đông
Chùm ti-gôn trước sân nhà rực đỏ
Những bông tim làm ai đó nao lòng
Con có nhớ giàn ti-gôn trồng trước cửa nhà mình không? Hoa vẫn nở suốt mùa một màu đỏ hy vọng như tình cảm của ba mẹ luôn dành cho con.Từ một nhánh nhỏ do bác Ba Chiểu trụ trì chùa Hiệp Minh tặng nó phát triển thật tốt tươi, ba đã làm giàn cho nó leo lên, vừa tạo được bóng râm trước sân nhà vừa có hoa nở xinh tươi bốn mùa. Có một lần con về thăm nhà, ba nhờ người bạn bấm giùm một tấm hình cả gia đình bên giàn hoa ti-gôn sắc hồng chứa chan niềm hy vọng đó. Tấm hình ấy chắc bao nhiêu năm luôn theo con ở xứ người để con bao giờ cũng thấy được ngọn lửa ấm áp, ngọn lửa yêu thương của cả gia đình dành cho con.
Rồi cũng qua bốn năm học tập ở Đảo quốc Sư tử, con tốt nghiệp trung học với tấm bằng loại giỏi, con từ chối học bổng của hai trường đại học danh giá của Singapore, con lại muốn đi, đi khám phá chân trời khác mới mẻ hơn, xa lạ hơn. Con muốn qua Mỹ tiếp tục cuộc hành trình chữ nghĩa với những ước mơ và những điều đang ấp ủ. Con xin được một học bổng khác, Lần nầy con đi xa hơn nhưng cũng làm cho ba lo lắng hơn. Con qua Mỹ, ở một đất nước quá rộng lớn với nhiều sắc tộc khác nhau, những dị biệt về văn hóa, cách ứng xử và nhiều nỗi bất trắc hiểm nguy luôn rình rập phía trước thật sự làm ba vô cùng lo ngại:
Ngày con đi tuổi mười lăm nhỏ bé
Tám năm trôi biển cạn thật vô cùng
Bao mùa nắng con thành chàng trai trẻ
Biết có yêu người yêu đất nước bao dung?
Nơi con học tập thuộc thành phố Boston bang Massachusett,
miền đông bắc nước Mỹ, nơi thời tiết thường bất ổn, thiên tai luôn bất ngờ ập đến.
Có năm bão tuyết hoành hành dữ dội, cơn bão Sandy cuốn trôi bao thuyền bè, nhà
cửa cây cối ngã đổ la liệt, mất điện mất nước kéo dài. Có lần lúc đang di chuyển
đến trường con trượt té vì tuyết trơn gẩy tay phải nhập viện, ba vô cùng hoảng
hốt nhưng không biết làm thế nào, giấu không cho mẹ hay sợ mẹ ngã bệnh vì lo lắng.
Tai nạn khó khăn rồi cũng qua đi.
Có những lúc giựt mình nghe bão đến
Tuyết mịt mù trời lạnh chục độ âm
Con đâu biết quê nhà con bấc thổi
Ba ngồi nhìn đôi mắt dõi xa xăm.
Có những lúc bước chân con về quê nhà nhưng thật ngắn ngủi
rồi lại đi. Lúc nhà còn ở Cần Thơ, con chỉ ở lại một vài ngày ngắn ngủi rồi lại
trở ngược lên Sài Gòn tham gia những tổ chức giáo dục, tham gia công tác thiện
nguyện và những buổi hội thảo nhằm giúp các em học sinh trung học có cơ hội tiếp
cận với những học bổng nước ngoài như ngày trước mình đã từng săn tìm được.
Con lại về chiếc ba lô nhẹ hẩng
Đôi giầy mòn hơi muối mặn đại dương
Ba đâu mong gì những điều con học được
Chỉ mong tấm lòng giữ mãi lửa yêu thương.
Căn phòng nhỏ ba vừa thay chăn mới
Con nằm chưa ấm chổ lại đi rồi
Nhớ thương con trong lòng ba giấu kỷ
Sợ con chạnh lòng mẹ lại lệ rơi.
Ngày ra trường cũng đến. Con tốt nghiệp đại học với hai bằng
kinh tế và công nghệ thông tin vào loại xuất sắc. Khi nghe con thông báo kết quả
mẹ lại khóc(tánh mẹ là thế mà, luôn xúc động trước những niềm vui hay nỗi buồn,
đó là những giọt nước mắt hạnh phúc không phải lúc nào ai cũng có diễm phúc để
có dịp được tuôn trào đúng không con?). Nhìn nụ cười rạng rỡ của con trong bộ đồng
phục trong buổi lễ ra trường và nhất là hình ảnh con giương lá cờ đỏ sao vàng
trong ngày lễ trọng đại ấy như muốn nói với tất cả mọi người: Tôi là người Việt
Nam. Ba nhìn thấy ở con vẻ tự hào khi đã vượt qua những năm tháng dài học tập,
làm thêm vất vả để có thêm tiền sinh hoạt, trang trải biết bao chi phí đắt đỏ
nơi đất khách quê người: Khi thì làm phụ tá trong phòng thí nghiệm, khi thì bán
fast food trong của hàng ăn uống... chính những khó khăn nơi quê người làm cho
con thêm sức mạnh để phấn đấu. Con đi làm để tích lũy thêm kinh nghiệm, kiến thức
và tiếp tục học lên. Ba biết đất nước nầy không dành cho những kẻ thích yên phận,
chỉ có tiếp tục học lên mới có thể chinh phục những rào cản trong tương lai. Điều
nầy đồng nghĩa với việc ba mẹ tiếp tục xa con. Đứa con bé bỏng ngày nào bây giờ
đã trở thành một chàng thanh niên cứng cáp, rắn rỏi hơn bao giờ hết.
Lại thêm những tháng năm chờ đợi
Con chim non rời tổ đã bay xa
Hãy tung cánh trên bao miền đất lạ
Cánh chim bằng nào sợ những phong ba.
Hãy mạnh mẽ lên con nhé. Hãy nhớ dù con ở một nơi đó cách
xa quê hương hơn nửa vòng trái đất đi nữa, bên cạnh con luôn luôn còn có một
gia đình, luôn là tổ ấm vững vàng cho con những lúc con muốn quay về khi mệt mỏi,
chắc chắn là thế. Mùa đông lạnh giá rồi sẽ qua đi, mùa xuân ấp áp sẽ quay về,
ba luôn tin điều đó.