LÝ QUÝ LAN 李 季 蘭, (LÝ DÃ, 李 冶)
(713-784),
Thịnh Đường
明 月 夜 留 別
Phiên âm
Minh
nguyệt dạ lưu biệt
Ly
nhân vô ngữ nguyệt vô thanh,
Minh nguyệt hữu quang nhân hữu tình.
Biệt hậu tương tư nhân tự nguyệt,
Vân gian thuỷ thượng đáo Tằng Thành.
Minh nguyệt hữu quang nhân hữu tình.
Biệt hậu tương tư nhân tự nguyệt,
Vân gian thuỷ thượng đáo Tằng Thành.
Dịch
nghĩa
Người sắp đi xa không nói gì, còn trăng cũng im lặng,
Trăng có ánh sáng, người có tâm tình.
Sau khi xa rồi, có nhớ nhau, ta sẽ xem trăng là người,
Từ trong đám mây hay trên dòng sông, trăng sẽ đến Tằng Thành.
Trăng có ánh sáng, người có tâm tình.
Sau khi xa rồi, có nhớ nhau, ta sẽ xem trăng là người,
Từ trong đám mây hay trên dòng sông, trăng sẽ đến Tằng Thành.
Dịch thơ
Đêm trăng từ biệt
Người xa không
nói, trăng cũng thinh
Trăng có vầng
quang, người có tình
Xa nhau có nhớ, người là nguyệt
Tằng Thành mây
nước sáng lung linh.
NGUYỄN AN BÌNH
*Tác giả là một nữ đạo sĩ. Bà làm bài này tặng bạn tri kỷ Diêm Bá Quân.
Lý Quý Lan 李季蘭
(713-784) vốn tên Lý Dã 李冶
(có sách chép Lý Dụ 李裕,
Lý Đãi 李紿) sinh năm Khai
Nguyên thứ nhất đời Đường Huyền Tông, người Ô Trình, tỉnh Giang Nam (nay thuộc
Ngô Hưng, Chiết Giang). Nàng có tài làm thơ từ khi còn nhỏ tuổi, lại thông
minh, lanh lợi hơn người. Năm mười một tuổi, được cha mẹ đưa vào Ngọc Trấn quán
ở Viêm Trung làm nữ đạo sĩ, cho đổi tên thành Lý Quý Lan 李季蘭 vì nghĩ rằng chốn tịnh tu đèn xanh mũ vàng có thể xoá bỏ
nghiệp chướng của đời nàng. Vì có tài thơ xuất chúng, nên Lý Quý Lan đã được
các văn nhân, thi sĩ mến mộ và thường lui tới đạo quán đàm luận thơ văn, ngay cả
Đường Huyền Tông cũng biết tiếng nàng và thường hay đọc thơ của nàng. Lý Quý
Lan có nhiều bạn thơ nhưng trong đó được kể đến nhiều là các thi sĩ Chu Phóng,
Lục Vũ, thi tăng Hạo Nhiên.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét