TRƯƠNG TỊCH 張 籍
(768-830), Trung Đường
節 婦 吟
君 知 妾 有 夫,
贈 妾 雙 明 珠。
感 君 纏 綿 意,
繫 在 紅 羅 襦。
妾 家 高 樓 連 苑 起,
良 人 執 戟 明 光 裡。
知 君 用 心 如 日 月,
事 夫 誓 擬 同 生 死。
還 君 明 珠 雙 淚 垂,
恨 不 相 逢 未 嫁 時。
贈 妾 雙 明 珠。
感 君 纏 綿 意,
繫 在 紅 羅 襦。
妾 家 高 樓 連 苑 起,
良 人 執 戟 明 光 裡。
知 君 用 心 如 日 月,
事 夫 誓 擬 同 生 死。
還 君 明 珠 雙 淚 垂,
恨 不 相 逢 未 嫁 時。
Phiên âm
Tiết phụ ngâm
Quân tri thiếp hữu phu,
Tặng thiếp song minh châu.
Cảm quân triền miên ý,
Hệ tại hồng la nhu.
Thiếp gia cao lâu liên uyển khởi,
Lương nhân chấp kích Minh Quang lý.
Tri quân dụng tâm như nhật nguyệt,
Sự phụ thệ nghĩ đồng sinh tử.
Hoàn quân minh châu song lệ thuỳ,
Hận bất tương phùng vị giá thì.
Tặng thiếp song minh châu.
Cảm quân triền miên ý,
Hệ tại hồng la nhu.
Thiếp gia cao lâu liên uyển khởi,
Lương nhân chấp kích Minh Quang lý.
Tri quân dụng tâm như nhật nguyệt,
Sự phụ thệ nghĩ đồng sinh tử.
Hoàn quân minh châu song lệ thuỳ,
Hận bất tương phùng vị giá thì.
Dịch nghĩa
Chàng biết em đã có
chồng
Tặng em đôi hạt châu sáng
Cảm động trước tình đeo đẳng của chàng
Tặng em đôi hạt châu sáng
Cảm động trước tình đeo đẳng của chàng
Em buộc vào áo lụa hồng
Nhà em có lầu cao bên vườn hoa
Chồng em cầm kích túc trực trong điện Minh Quang
Vẫn biết lòng chàng trong sáng như mặt trời, mặt trăng
(Nhưng) em đã thề cùng sống chết với chồng
Trả lại chàng hạt châu sáng, hai hàng nước mắt ròng ròng
Ân hận rằng không thể gặp nhau lúc chưa chồng.
Nhà em có lầu cao bên vườn hoa
Chồng em cầm kích túc trực trong điện Minh Quang
Vẫn biết lòng chàng trong sáng như mặt trời, mặt trăng
(Nhưng) em đã thề cùng sống chết với chồng
Trả lại chàng hạt châu sáng, hai hàng nước mắt ròng ròng
Ân hận rằng không thể gặp nhau lúc chưa chồng.
Dịch thơ
Khúc ngâm của người tiết phụ
Chàng biết thiếp có chồng rồi
Minh châu chàng lại tặng đôi ngọc lành
Cảm ơn tình ý của chàng
Thiếp đeo vào áo lụa hồng không quên
Thiếp nhà vườn ngự kề bên
Chồng đang làm lính trong đền Minh Quang
Biết lòng chàng sáng như trăng
Yêu chồng, nguyện gắn đá vàng thủy
chung
Ngọc hoàn lệ chảy tuôn dòng
Giận thời mối chỉ tơ hồng chưa xe.
*Sách Dung
Trai tam bút chép rằng: Trương Tịch làm việc tại mạc phủ, viên soái đất
Vận là Lý Sư Cổ cho người mang lễ vật đến mời ông tới giúp việc. Ông khước từ
và làm bài Tiết phụ ngâm gửi lại.
Trương
Tịch 張籍 (768-830) tự Văn Xương 文昌, người Hoài Châu, một đời làm quan khá thuận lợi. Ông là
bạn thân của Bạch Cư Dị, Đỗ Phủ, Nguyên Chẩn, Bùi Độ. Ông từng làm Quốc Tử tư
nghiệp.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét