TRƯƠNG KẾ 張 繼
Phiên âm
Phong Kiều dạ bạc
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
Giang phong ngư hoả đối sầu miên.
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự,
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Giang phong ngư hoả đối sầu miên.
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự,
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Dịch nghĩa
Trăng lặn, quạ kêu, sương phủ đầy trời.
Hàng phong bên sông, ngọn đèn thuyền chài nằm ngủ trong một giấc sầu.
Chùa Hàn San ở ngoài thành Cô Tô,
Tiếng chuông chùa lúc nửa đêm vẳng đến thuyền khách đậu bên sông.
Hàng phong bên sông, ngọn đèn thuyền chài nằm ngủ trong một giấc sầu.
Chùa Hàn San ở ngoài thành Cô Tô,
Tiếng chuông chùa lúc nửa đêm vẳng đến thuyền khách đậu bên sông.
Dịch thơ
Ban đêm đậu thuyền tại Phong Kiều
Trăng
tàn vẳng tiếng quạ kêu sương
Lửa
chài phong bãi giấc sầu vương
Nửa
đêm thành vắng Hàn San Tự
Vẳng
đến thuyền ai một tiếng chuông.
NGUYỄN AN BÌNH
______________________________________________________________
Trương Kế 張繼 (?-779) tự Ý Tôn 懿孫, người Tương Châu 襄州, đỗ tiến sĩ năm Thiên Bảo thứ 12 (754), là một nhà thơ có
tiếng thời Trung Đường. Thơ của ông trong Toàn Đường thi có chép thành
một quyển, nhưng chỉ một bài Phong Kiều dạ bạc 楓橋夜泊 đã giúp ông lưu danh thiên cổ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét