Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2024

KHI RỜI BOSTON

 

 


KHI RỜI BOSTON

  

Đêm còn ở lại Boston

Ta đi quanh mấy con đường lá rơi

Mưa khuya làm buốt lòng người

Gió từ biển rộng hát lời hải âu.

 

Đại Tây Dương sóng rì rào

Ngồi trên bến cảng nơi nào quê hương

Bửa ăn cuối khi lên đường

Chìm trong tĩnh lặng nỗi buồn quạnh hiu.

 

Rồi trong nắng sớm mưa chiều

Con đường gởi lại ít nhiều dấu chân

Đời vui đếm được mấy lần

Bàn tay vẫy biệt ngại ngần trông theo.

Thứ Bảy, 8 tháng 6, 2024

VƯỜN HOA HỒNG CỦA THOMAS JEFFERSON

 

VƯỜN HOA HỒNG CỦA THOMAS JEFFERSON

  

Qua khu vườn nhỏ

Lá đọng hơi sương

Đóa hồng vừa nở

Ngọn gió đưa hương.

 

Lung linh bóng nắng

Vừa chớm sớm mai

Tôi người khách lạ

Nương đậu bờ vai.


 

Trôi cùng năm tháng

Vẫn rực sắc màu

Ai người chăm bón

Qua những bể dâu?

 

__________________________

*Vườn hoa hồng ở thành phố Philadelphia, Thomas Jefferson từng là Tổng thống Mỹ 2 nhiệm kỳ 1801 và 1805.

Thứ Ba, 4 tháng 6, 2024

VẾT BỤI TRẦN GIAN

 


Một bài thơ như những nốt nhạc trầm

 VẾT BỤI TRẦN GIAN


 Nầy em

Xuân sớm gọi én về chưa

Mang theo tin mừng

Trên đôi cánh gầy phủ bụi phong trần đường xa

Hoàng mai khoe sắc ân cần mang khúc tình ca

*

Ai về

bên đường thấp thoáng hạ hồng

Trên gót chân trần sỏi đá reo mừng bước em

Còn tôi cỏ dại ven rừng quên cả phố phường

Bỏ cả tháng ngày bỏ hạ mà đi.

*

Mùa sang tin sớm còn trông

Đò qua bến vắng người mong

Trôi theo bao dấu lăn trầm ngại ngần

Cũng đành chôn cùng vết bụi trần gian.

 

*

Chiều thu

Run phím tay ngà theo đàn

Nhuộm ánh trăng vàng

Rơi theo chiếc lá muộn màng rụng đầy ngoài sân

Cúc tần xanh mướt vườn sau bao giờ phai tàn.

*

Vì em

Bờ lau trắng xóa triền sông

Mây tím chiều giăng

Đốt lá giữa đồng đốt cả tháng ngày mưa giông

Xin em một lần

Đốt nén hương trầm ấm lại mùa đông.

Thứ Hai, 3 tháng 6, 2024

THẮP SÁNG NHỮNG TRANG KINH

THƠ TRÊN TẠP CHÍ VĂN HÓA PHẬT GIÁO SỐ 421 THÁNG 6-2024

THẮP SÁNG NHỮNG TRANG KINH

Thơ NGUYỄN AN BÌNH





 

THẮP SÁNG NHỮNG TRANG KINH

 

Thắp sáng những ngọn đèn

Soi màn đêm tăm tối

Giọt sương buổi bình minh

Xóa mờ bao lầm lỗi.

 

Thắp sáng từng niềm tin

Tiêu tan bao khổ nạn

Giữa dòng đời phù sinh

Tùy duyên cùng Phật pháp.

 

Thắp sáng bao ước mơ

Khát khao niềm hy vọng

Xanh mát suốt bãi bờ

Phải đâu là huyễn mộng.

 

Thắp sáng những trang kinh*

Mười hai điều đại nguyện

Trải muôn kiếp nhân sinh

Sáng con đường chánh niệm.

 

Hoa nở bên bờ giác

Tỏa sáng “Ngọc Lưu Ly”

Xanh suối nguồn hạnh phúc

Tâm hạnh đức từ bi.

 

Phật đài xin đảnh lễ

Tam bảo ngự trên cao

Thân nhẹ qua rừng trúc

Lòng tự tại tiêu dao.

 NGUYỄN AN BÌNH

 ____________________

*Kinh Dược Sư


MÙA BỒ ĐỀ THAY LÁ

THƠ TRÊN TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC NGÀY 3/6/2024
MÙA BỒ ĐỀ THAY LÁ

Thơ NGUYỄN AN BÌNH

 MÙA BỒ ĐỀ THAY LÁ

  

Một ngày nắng mới vừa lên

Nghe hồi chuông sớm bồng bềnh ngân xa

Bồ đề rụng lá đêm qua

Đạo tràng thơm mãi nhành hoa dịu dàng.

 

Khi cây trút hết lá vàng

Hiện trên gân lá Phật đang tọa thiền

Nghe lòng tự tại an nhiên

Sân si buông bỏ ưu phiền trôi xuôi.

 

Trước sân chim hót đầu hồi

Mái chùa tĩnh lặng xanh ngời rêu phong

Một làn mưa bụi đầu đông

Đường quê chân đất còn nồng rạ rơm.

 

Gió reo màu lá xanh non

Chồi tơ nẩy lộc thiền môn tâm thành

Bồ đề cành lá long lanh

Tàng cây giác ngộ phước lành bay xa.


Chủ Nhật, 2 tháng 6, 2024

HUYỀN THOẠI BÊN DÒNG SÊ-RÊ-PÔK

 THƠ TRÊN TẬP SAN QUÁN VĂN SỐ 104 THÁNG 6-2024

HUYỀN THOẠI BÊN DÒNG SÊ-RÊ-PÔK




Thơ NGUYỄN AN BÌNH

 HUYỀN THOẠI BÊN DÒNG SÊ-RÊ-PÔK

 

Giữa đại ngàn thanh âm hùng vĩ

Tôi nghe tiếng gọi thì thầm của dòng sông

Sê-rê-pôk kia ơi

Ai đặt tên cho người mà nghe nặng tình tha thiết

Thác ghềnh nào réo gọi tên cha –  Ơi Krông Knô

Sông suối nào báo tin cùng mẹ - Ơi Krông Ana

Con sông tách nguồn từ thuở hoang sơ dâu bể

Sao lại tìm được nhau

Phải chăng ngàn năm xưa đã từng đính ước

Trong mơ hồ tiếng hát – Giữa đêm trăng thanh vắng

Tôi chợt nhận ra đôi mắt em

Người sơn nữ.

 

Trong muôn ngàn mật ngôn của núi rừng

Ẩn mình trong từng lớp rêu xanh

Khắc trên bao triền đồi vách núi hiểm trở

Tàn tích dòng dung nham Chư Bluk, Nâm Gie... ở đâu

Dưới dòng nước ngày đêm tung mình trắng xóa

Thác Dray Sáp, Đray Nur...

Gắn vào lòng mình bao uyền thoại

Tôi đi ngược dòng nước

Tìm nơi nào bên đục bên trong

Nơi nào ta gặp được nhau

Xin Giàng mách bảo.

 

Đàn Kơ tia lại bay về

Báo tin mùa lúa vàng ươm trên nương rẫy

Ngồi trên thuyền độc mộc

Khua mái chèo vượt dòng sông dữ

Vạt cà phê hoa trắng hương rừng

Bầy ong bay về tìm mật

Giữa núi rừng bazan đầy nắng và gió

Hoa vẫn nở đúng mùa

Lẫn trong màu hoa trắng

Tôi thấy vạt áo em lung linh vờn trong nắng

Tiếng cười đuổi theo sau

Tôi sợ mình sẽ lạc mất đường về.

 

 

Đêm Tây nguyên – ngập tràn ánh trăng

Giữa không gian cô độc trầm tư

Chỉ còn nghe tiếng thở trầm đục ngàn năm đại ngàn

Sê-rê-Pôk muốn kể với tôi điều gì

Bên ngôi nhà sàn bập bùng ánh lửa

Bên lễ hội cồng chiêng mừng mùa lúa mới

Khi ánh mắt em đăm đẳm buổi ráng chiều

Nhìn tôi mơ màng không nói

Ơi dòng sông chảy ngược về Tây

Ngọn Chư Yang Sin cao ngất mù sương kia ơi

Có giữ giùm tôi lời hẹn ước?

31/03/2024


Thứ Năm, 30 tháng 5, 2024

DẪU BIẾT TRĂM NĂM LÀ HỮU HẠN

 

 


 NGUYỄN AN BÌNH

                         DẪU BIẾT TRĂM NĂM LÀ HỮU HẠN

                                               *Tưởng nhớ nhà văn Trần Hoài Thư

 Vài ngày sau khi chị Yến mất, anh Trần Hoài Thư có tin nhắn cho tôi: Nguyễn An Bình- Anh nhớ có một ngôi chùa nữ(Sư Nữ) ở phia bên kia đường Phan Thanh Giản gần chợ, bờ sông bên đường ngày xưa có quán cà phê văn nghệ. Chị Yến hay đi chùa nầy. Em cho anh tin tức chùa nầy. Cám ơn em lắm lắm.

Đọc dòng tin ngắn ngủi tôi ngầm biết mục đích anh hỏi thăm ngôi chùa nữ ngày xưa còn ở Cần Thơ chị Yến hay viếng thăm cúng dường để làm gì nhưng với thông tin mơ hồ nên tôi hồi đáp: Em về sống ở Sài Gòn 7 năm nay rồi anh ạ, không biết ngôi chùa nữ ấy có còn nữa hay không. Anh hồi đáp – Nhờ em hỏi giùm. Anh muốn mang bình đựng tro cốt của chì Yến gởi vào chùa ấy. Nếu khó thì thôi. Đừng bận tâm. Tôi sợ anh hiểu lầm mình không nhiệt tình giúp nên viết cụ thể hơn: Không phải khó mà thông tin anh gởi không rõ ràng nên nói với người thân còn ở Cần Thơ dò hỏi giúp chắc cũng không biết hay khó tìm lắm anh ạ. Chắc anh Trần Hoài Thư cũng biết thế nên anh trả lời: Vâng, gần nửa thế kỷ rồi. Cám ơn em một lần nữa. Chị Yến sinh ở An Bình Cần Thơ...

Thật tình tôi cũng rất áy náy vì không giúp được gì cho anh trong việc nầy vì thông tin anh nói quá mơ hồ. Thời gian ngắn sau nhà văn Phạm Văn Nhàn điện về cho tôi hay: Anh Trần Hoài Thư nhập viện hôn mê sâu rồi em ạ. Bác sĩ Ngô Thế Vinh vừa báo cho anh, tiên liệu chắc không qua khỏi. Anh Nhàn cũng nói với tôi biết anh Thư có ước nguyện đưa tro cốt của chị Yến về ngôi chùa mà ngày xưa chị Yến thường đi lễ, có nhờ tôi tìm giúp nhưng không được, anh có giải thích cho anh Thư: Mấy mươi năm rồi ngôi chùa ấy không có tên, biết còn tồn tại không sao Bình tìm được, hơn nữa sức khỏe ông thế nầy làm sao đem tro cốt cô ấy về Việt Nam cho được, nên gởi tro cốt ở một ngôi chùa nào bên nầy thuận tiện hơn, anh Thư cũng đã đồng ý rồi. Hôm sau anh Nhàn lại báo: Anh Trần Quý Phiệt(anh trai anh Thư) điện báo anh Thư đã tỉnh lại rồi, anh mừng quá. Tôi cũng vui trong nỗi vui của anh, thì chỉ một thời gian ngắn Quí Thoại con anh Thư báo tin anh Thư vĩnh viễn rời xa cõi tạm. Anh Nhàn lại điện báo tin cho mọi người tin đau buồn này. Nhà văn Trần Hoài Thư mất lúc 6:35 sáng ngày 27 tháng 5 năm 2024(giờ bên Mỹ), Quí Thoại con anh Thư xác định trên trang fb của anh Thư như vậy.

“ Dẫu biết trăm năm là hữu hạn “, cuộc đời ai cũng một lần bước qua bờ sinh tử, Anh Thư giờ đã được gặp lại chị Yến ở một bến bờ an lạc nào đó. Thời gian sẽ làm cho người ta lãng quên đi tất cả, bao niềm vui hạnh phúc, sự muộn phiền sẽ theo dòng thời gian cuốn về một nơi xa lắc không dễ ai tìm lại được nhưng lịch sử văn học Việt Nam không thể quên có một người – một nhà văn có tên TRẦN HOÀI THƯ – tự nguyện khâu vá di sản văn chương miền Nam đã bị khói phần thư đốt cháy.

Tôi có hai bài thơ viết tặng anh đã lâu giờ xin được đăng lại như một nén tâm hương gởi người đã khuất, một tình cảm chân thành người em văn nghệ luôn yêu quí tấm lòng của anh đối văn học miền Nam.

 

KHI NGHE SÓNG TỪ TRƯỜNG

*Tặng anh Trần Hoài Thư

 

Từ khi bẻ súng bên trời

Cánh chim phiêu bạt một đời tha hương

Hỏa châu treo giữa chiến trường

Núi xương sông máu lạc đường chung thân.

 

Từ khi binh lửa lụi tàn

Chinh y trút xuống khoác thân tù đày

Góc rừng lam khí trùng vây

Gò hoang bãi vắng sương dày âm u.

 

Từ khi ngọn khói phần thư

Đốt tan kinh sử bụi mù tàn hương

Đi tìm di sản văn chương

Miền Nam, còn lại tiếng chuông gọi hồn.

 

Mười năm nước đã xa nguồn

Mười năm tro lạnh ăn luồng qua tim

Mười năm chao chát nỗi niềm

Mười năm dâu bể trôi chìm ngọc châu.

 

Mài gươm đã bạc mái đầu

Dưới trăng tiếng hạc bên cầu kêu sương

Còn nghe trong sóng từ trường

Máu tim người lính treo buồn thiên thu.

 

 

MỘT LẦN ĐƯỢC VỊN TAY NHAU

 

Vịn thơ tôi đứng làm người

Lần walker bước reo vui lạ lùng

Sách báo người bạn thủy chung

Bàn tay lóng ngóng còng lưng in bài.

 

Vịn em tôi sống lại rồi

Khi nghe em hát bên đồi hoa sim

Em đừng làm tôi chết chìm

Vui như ngày đó con tim nồng nàn.

 

Vịn người làm cuộc hóa thân

Vịn vào lục bát gieo vần tự do

Yêu thương đâu phải tình cờ

 Trăm năm duyên nợ hẹn hò đôi câu.

 

Một lần được vịn tay nhau

Nước cam lộ tưới nhiệm mầu niềm tin

Núi rừng mưa lũ nhục vinh

Đường xa chân cứng đá mềm mà đi.