Thứ Năm, 2 tháng 4, 2020

TỪ GIÃ HÀN THÂN Ở QUÁN VÂN DƯƠNG - TƯ KHÔNG THỰ


TƯ KHÔNG THỰ  司 空 曙
(720-790), Trung Đường

Phiên âm
Vân Dương quán dữ Hàn Thân túc biệt
Cố nhân giang hải biệt,
Kỷ độ cách sơn xuyên.
Sạ kiến phiên nghi mộng,
Tương bi các vấn niên.
Cô đăng hàn chiếu vũ,
Thâm trúc ám phù yên.
Canh hữu minh triều hận,
Ly bôi tích cộng truyền.

Dịch nghĩa
Từ giã Hàn Thân ở quán Vân Dương
Bạn cũ giã biệt nơi sông biển
Đã mấy phen cách trở núi sông
Chợt gặp gỡ cứ ngờ cơn mơ
Cùng buồn khi hỏi thăm tuổi nhau
Ngọn đèn lẻ loi lạnh lùng soi vào làn mưa
Bụi trúc rậm khói phủ mờ mờ
Sáng hôm sau lại có nỗi buồn giận
Vì tiếc phải trao nhau chén rượu giã từ

*Vân Dương ở huyện Tam Nguyên, tỉnh Thiểm Tây ngày nay.


Dịch thơ
Từ giã Hàn Thân ở quán Vân Dương

Sông núi giang hồ biệt cố nhân
Gặp nhau hỏi tuổi ngỡ mộng tàn
Ngọn đèn khóm trúc mờ sương khói
Chén rượu vơi đầy mặc hợp tan.
NGUYỄN AN BÌNH


______________________________________________________________
Tư Không Thự 司空曙 (720-790), tự Văn Minh 文明, người Quảng Bình 廣平 (nay thuộc tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc), thi nhân đời Đường, là một trong "Đại Lịch thập tài tử". Ông có họ hàng gần với Lư Luân 盧綸 (cũng là một trong "Đại Lịch thập tài tử").

TỐNG BIỆT - VƯƠNG DUY


VƯƠNG DUY  王 维
(701 – 761), Thịnh Đường

送 別(下 馬 飲 君 酒)


Phiên âm

Tống biệt (Há mã ẩm quân tửu)

Há mã ẩm quân tửu,
Vấn quân hà sở chi?
Quân ngôn bất đắc ý:
Quy ngoạ Nam Sơn thuỳ.
Đãn khứ mạc phục vấn,
Bạch vân vô tận thì!

Dịch nghĩa


TIỄN BẠN(XUỐNG NGỰA UỐNG CHÉN RƯỢU)
Xuống ngựa uống chén rượu tiễn bạn
Hỏi bạn đi về đâu
Bạn nói rằng không được vừa ý
Về nhà ở mé Chung Nam sơn ngủ quên đời
Thôi thì bạn cứ đi tôi chẳng hỏi nữa
Mây trắng bay mãi không bao giờ hết

*Bài thơ này làm khi đưa Mạnh Hạo Nhiên lên đường về ẩn cư ở núi Chung Nam.


Dịch thơ

TIỄN BẠN

Xuống ngựa mời nhau chén rượu đầy
Về đâu bạn hởi lúc chia tay
Thói đời đen bạc về non ở
Thẫn thờ tình mãi trắng ngàn mây.
NGUYỄN AN BÌNH

Xuống yên uống rượu cùng anh
Hỏi anh sắp sửa cất mình đi đâu
Rằng ta chán chuyện mưu cầu
Định về nằm ở mé đầu Nam sơn
Đi đây đừng có hỏi han
Mây kia trắng xóa chẳng tan bao giờ
TRẦN TRỌNG KIM

________________________________________________________________
Vương Duy (chữ Hán: 王维; 701 - 761), biểu tự Ma Cật (摩诘), hiệu Ma Cật cư sĩ (摩诘居士), là một nhà thơ, một họa sĩ, một nhạc sĩ, một nhà viết thư pháp và một chính khách nổi tiếng đời Thịnh Đường. Ông là người tinh thông về Phật học và theo trường phái Thiền tông. Trong Phật giáo có Duy Ma Cật kinh, là kinh sách do Duy-ma-cật dùng để giảng dạy cho môn sinh. Do tập trung về Phật giáo, ông được người đời gọi là Thi Phật (詩佛).
Cùng với Thi Tiên Lý Bạch, Thi Thánh Đỗ Phủ và Thi Quỷ Lý Hạ, Vương Duy có biệt danh Thi Phật đã tạo nên hiện tượng Thánh-Tiên-Phật-Quỷ cùng xuất hiện trong giai đoạn cực thịnh của thơ Đường. Ngày nay còn giữ được khoảng 400 bài thơ của ông, với phong cách tinh tế, trang nhã.
ương Duy người huyện Kỳ, Tấn Trung, Sơn Tây, Trung Quốc. Ông xuất thân trong gia tộc rất danh giá thời Đường là Thái Nguyên Vương thị. Cha ông là Vương Xử Liêm (王处廉), mẹ là Thôi thị, trong nhà ông là trưởng, sau đó tới Vương Tấn (王缙), cùng 2 em trai và một em gái.
Năm Khai Nguyên thứ 9 (721), thời Đường Huyền Tông, Vương Duy đỗ tiến sĩ, nhận chức quan Đại nhạc thừa, sau phạm điều cấm, bị khiển trách và phải đến Tế Châu làm tham quân. Năm Khai Nguyên thứ 14 (726), ông từ bỏ quan chức, nhưng sau đó lại nhận chức Hữu thập di[1], thăng tới Giám sát ngự sử. Năm 40 tuổi, được thăng lên Điện trung truyền ngự sử.
Năm Thiên Bảo thứ 14 (755), An Lộc Sơn chiếm Trường An. Vương Duy bị An Lộc Sơn bức bách ra làm quan, nhưng sau không được như ý, ông đã lui về ở tại biệt thự Lam Điền, sáng tác thơ ca để biểu đạt lòng mình. Sau khi An Lộc Sơn thất bại, nhờ có em trai là Vương Tấn khi đó đang giữ chức quan cao nên Vương Duy được miễn tội và được phong chức Thái tử trung doãn, sau thăng tới Thượng thư hữu thừa, vì thế người đời còn gọi ông là Vương hữu thừa (王右丞).

MÙA XUÂN TRÊN ĐẤT CHÍN RỒNG

CA KHÚC THƠ PHỔ NHẠC BÀI 240(60)
MÙA XUÂN TRÊN ĐẤT CHÍN RỒNG
Trong Tuyền Tập Thơ Phổ Nhạc Tập 3 VỀ PHƯƠNG NAM TÌM MỘT CÁNH CÒ  Thơ Nguyễn An Bình, nhạc Phan Bá Kiệt
GIẢI KHUYẾN KHÍCH CUỘC THI CA KHÚC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 2018


MÙA XUÂN TRÊN ĐẤT CHÍN RỒNG
  
Em có nghe tiếng chim chào ngày mới
Nắng đầu cành vàng sắc lá non tơ
Hoa khoe sắc làm con tim  rộn rã
Lòng xuyến xao vui như mắt trẻ thơ.

Đô thị xanh xuôi về Nam Sông Hậu
Tàu vào ra nhộn nhịp cảng Cái Cui
Cầu dây văng xuyên hai bờ  thế kỷ
Mơ ước đời người nối những bờ vui.

Em tươi thắm trong áo dài tha thướt
Phố ông đồ nét bút tựa mây trôi
Thơm bánh tét bên nhà lồng chợ cổ
Hoa Ninh Kiều càng thêm sắc xuân tươi.

Vườn cò Bằng Lăng  đất lành chim về đậu
Rượu Phong Điền vừa nhắp đã say hương
Dâu Hạ Châu tươi như màu nắng sớm
Bưởi Thanh Kiều làm nhớ đất Ô Môn.

Đường sân bay rộn ràng đưa đón khách
Em theo anh về thăm đất đồng bằng
Chút lãng mạn trong bài ca vọng cổ
Xuống xề rồi mà lòng vẫn bâng khuâng.

Thân thương lắm cả làng hoa Bà Bộ
Thơm vô cùng những trà lúa đông xuân
Đường hoa giăng bao ánh đèn rực rỡ
Ngọt phù sa lời hẹn chín dòng sông.


NAM HÀNH BIỆT ĐỆ - VI THỪA KHÁNH


VI THỪA KHÁNH  韋承慶

( 640 - 706) Thời Sơ Đường


南 行 別 弟  
NAM HÀNH BIỆT ĐỆ
Ðạm đạm trường giang thủy
Du du viễn khách tình
Lạc hoa tương dữ hận
Ðáo địa nhất vô thanh.

Dịch nghĩa
Chia tay em để xuôi nam
Nước Trường Giang lững lờ trôi,
Khách đi xa mối tình man mác.
Hoa rụng, dường như cùng chia sẻ mối hận,
Rơi tới mặt đất, không một tiếng gì.

DỊCH THƠ

TỪ BIỆT EM ĐỂ ĐI MIỀN NAM

Ngọn nước trường giang trôi lặng lẽ
Tình hoài lữ khách nhớ miên man
Thương cánh hoa tàn còn ôm hận
Lại nhẹ nhàng rơi không tiếng vang.
 NGUYỄN AN BÌNH

Êm đềm mặt nước Trường Giang
Khách xa luống những ngổn ngang mối tình
Hoa rơi dường cũng bất bình
Tả tơi xuống đất lặng thinh bùi ngùi.
TRẦN TRỌNG KIM

_____________________________________________________________
* Vi Thừa Khánh 韋承慶 (640-706) tự Diên Hưu 延休, người Dương Vũ, Trịnh Châu, sống vào đời Võ Hậu và Trung Tông, con của tể tướng Vi Tư Khiêm 韋思谦. Ông đỗ tiến sĩ năm 23 tuổi, làm Tham quân trong phủ Ung vương Lý Hiền rồi thăng đến Tư nghị lang. Khi thái tử Lý Hiền bị truất, ông bị biếm làm huyện lệnh Ô Trình ở Hồ Châu. Không lâu sau, Tuần sát sứ dâng thư nêu công lên Võ Hậu, ông được bãi tội về làm huyện lệnh Đốn Khâu ở Nguỵ Châu, thăng dần tới Phụng các xá nhân, rồi lại bị biếm làm thứ sử Nghi Châu. Sau ông được gọi về làm Trung thư xá nhân, trải qua nhiều chức quan đến Phụng các thị lang.

Sau khi Trương Xương Tông, Trương Dịch Chi bị giết, năm Thần Long thứ nhất (705), ông do thẩm tra hai anh em họ Trương có sai sót nên bị biếm đi Tuần Châu (nay thuộc Quảng Đông), một năm sau lại được triệu…

DỊCH THỦY TỐNG BIỆT - LẠC TÂN VƯƠNG


LẠC TÂN VƯƠNG   駱賓王
(khoảng 640 – 684)
, Sơ Đường


易 水 送 別  


Phiên âm
Dịch thuỷ tống biệt
Thử địa biệt Yên Đan,
Tráng sĩ phát xung quan.
Tích thời nhân dĩ một,
Kim nhật thuỷ do hàn.

Dịch nghĩa
ĐƯA TIỄN NƠI SÔNG DỊCH
Nơi đây khi từ biệt Thái tử Đan nước Yên
Tóc tráng sĩ dựng đứng lên sát mũ
Người xưa đã khuất rồi
Nước sông Dịch ngày nay còn giá lạnh.
    
Dịch thơ
ĐƯA TIỄN NƠI SÔNG DỊCH

Từ biệt Yên Đan ở đất nầy
Nỗi lòng tráng sĩ tóc như mây
Người xưa đã mất ngàn năm trước
Sao nước sông còn lạnh đến nay.

NGUYỄN AN BÌNH

Giã từ Yên thái tử
Tóc hùng chạm mũ ai
Người thời xưa đã khuất
Nước còn lạnh hôm nay.

TRẦN TRỌNG SAN

 _________________________________________________________
*Lạc Tân Vương người Nghĩa Ô tỉnh Chiết Giang, nổi tiếng thơ hay từ năm bảy tuổi. Ông ra làm quan đời vua Cao Tông, Võ Hậu nhưng bất mãn xin thôi. Khi Từ Kính Nghiệp nổi lên chống lại triều đình có dùng ông làm chức phủ thuộc. Ông có thảo bài hịch kể tội Võ Hậu. Cuộc biến loạn thất bại, ông bỏ trốn và mất tích. Theo Cựu Đường thư thì ông bị giết năm 684.

LƯƠNG CHÂU TỪ - VƯƠNG HÀN


(687 – 726)
 
涼 州 詞
葡 萄 美 酒 夜 光 杯,
欲 飲 琵 琶 馬 上 催。
醉 臥 沙 場 君 莫 笑,
古 來 征 戰 幾 人 回。


Phiên âm
LƯƠNG
CHÂU TỪ
Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi,
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi.
Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu,
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.

Dịch nghĩa
BÀI
CA LƯƠNG CHÂU
Rượu bồ đào cùng với chén lưu ly
Muốn uống nhưng đàn tỳ bà đã giục lên ngựa
Say khướt nằm ở sa trường, anh chớ cười
Xưa nay chinh chiến mấy ai trở về đâu.
 
Dịch thơ
BÀI CA LƯƠNG CHÂU
Rượu quí mềm môi cùng chén ngọc
Tỳ bà đã giục ngựa lên đường
Ai cười trận địa ta say khướt
Chinh chiến mấy người về cố hương?
                         NGUYỄN AN BÌNH


Rượu bồ đào, chén dạ quang
Muốn say, đàn đã rền vang dục rồi
Sa trường say ngủ, ai cười ?
Từ xưa chinh chiến mấy người về đâu!
                       TRẦN TRỌNG SAN
________________________________________________________________
*Lương Châu nay thuộc tỉnh Cam Túc, giữa Lan Châu và Vũ Uy, trước đây là nơi hàng bao thế kỷ người Hồ và người Hán đánh nhau. "Lương Châu từ" là một điệu hát cổ của nói về chuyện trận mạc biên ải. Những điệu hát cổ như: Thượng chi hồi, Chiến thành nam, Thương tiến tửu, Quân mã hoàng, Viễn như kỳ, Hoàng tước hành, Lạc mai hoa, v.v... được các thi nhân thời trước lấy làm đầu đề để sáng tác.
*Vương Hàn 王翰
(687 – 726)
Vương Hàn 王翰 (687-735) tự là Tử Vũ 子羽, người đất Tấn Dương (nay là huyện Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây). Thưở nhỏ, tính hào phóng, thích uống rượu. Ông thi đậu tiến sĩ, làm quan đến chức Giá bộ viên ngoại lang. Vì kiêu căng nên nhiều người ghét, bị đổi ra làm Trưởng sử Nhữ Châu, sau đổi làm Biệt giá Tiên Châu, rồi bị biếm làm Tư mã Đạo Châu và mất tại đây.