Thứ Năm, 2 tháng 4, 2020

ĐĂNG U CHÂU ĐÀI CA - TRẦN TỬ NGANG


TRẦN TỬ NGANG  陳 子 昂
(661-702), thời Sơ Đường

登 幽 州 臺 歌
前 不 見 古 人
後 不 見 來 者
念 天 地 之 悠 悠
獨 愴 然 而 涕 下

Phiên âm
ĐĂNG U CHÂU ĐÀI CA
Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất kiến lai giả
Niệm thiên địa chi du du
Độc sảng nhiên nhi thế há 

 Dịch nghĩa

Bài ca lúc lên đài U Châu
Phía trước không thấy người xưa
Phía sau không thấy ai đến
Ta nghĩ rằng trời đất rộng lớn mênh mông
Chỉ
riêng ta đau lòng rơi lệ.
   
DỊCH THƠ
BÀI CA LÊN ĐÀI U CHÂU
Nhìn trước người xưa đã mất rồi
Trông sau buồn chỉ thấy lẻ loi
Nào hay trời đất mênh mông quá
Một mình hiu quạnh mặc lệ rơi.
NGUYỄN AN BÌNH

_________________________________________________________
*Trần Tử Ngang là người Xạ Hồng, Tử Châu (nay là huyện Xạ Hồng, thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc). Xuất thân trong một gia đình hào phú lâu đời, hồi trẻ, ông chỉ ham học võ nghệ, săn bắn và đánh bạc ; đến năm 17, 18 tuổi, ông mới chuyên tâm học và đọc sách.

Năm 684, ông thi đỗ Tiến sĩ lúc 23 tuổi, được Võ hậu (tức Võ Tắc Thiên) khen ngợi [1], cho làm chức Chính tự (chức quan ở phòng bí thư) ở Lân Đài, sau thăng làm Hữu Thập di (có sách đề là Tả Thập di, nên ông còn được gọi là Trần Thập Di).
Năm 26 tuổi, ông tham gia quân đội của Kiều Tri Chi, từng đến biên thùy phía Tây Bắc.
Năm 35 tuổi, ông làm tham mưu cho Kiến An vương Võ Du Nghi, theo quân đi chinh Đông, đánh quân Khiết Đan. Võ Du Nghi không có mưu lược, quân đi tiên phong đại bại, mấy lần Trần Tử Ngang hiến kế cho Võ Du Nghi, và hăng hái xin cầm quân ra trận; nhưng không được nghe theo, mà ngược lại còn bị chủ tướng trút giận lên đầu ông, hạ chức ông từ tham mưu xuống làm quân tào.
Bất đắc chí, năm 38 tuổi, ông lấy cớ cha già, xin từ chức về quê.
Năm 702, huyện lệnh huyện Xạ Hồng là Đoàn Giản, vì nghe lời xui giục của Tể tướng Võ Tam Tư (cháu Võ Hậu) nên đã hại chết Trần Tử Ngang. Năm đó, ông 41 tuổi .
Tác phẩm của ông có Trần thập di tập (Tập thơ thu thập những phần còn sót lại của họ Trần), trong đó có khoảng 120 bài thơ.
Theo Dịch Quân Tả, thì Trần Tử Ngang là người có "tình tình hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài, ưa giúp người, và rất chân thật với bạn bè" .
Thời Sơ Đường, văn học còn chịu ảnh hưởng văn trào "diễm lệ" đời Lục triều. Thấy lối văn ấy ưa "ủy mị, đồi phế", "lộng lẫy, đẹp đẽ quá mà tuyệt nhiên không gửi gắm điều gì" (chữ của Trần Tử Ngang), trong hoàn cảnh đó, Trần Tử Ngang đã đề xướng ra lối văn có tinh thần "phong nhã" và "phong cốt Hán-Ngụy" (tức thời Kiến An)[4], bao hàm một nội dung tư tưởng lành mạnh, cứng cỏi. Ông nói: "Văn chương sa vào cái tệ đã 500 năm rồi, phong khí của Hán, Ngụy không truyền lại Tấn, Tống... Tôi, những lúc nhàn, đọc thơ Tề, Lương, lời thì rất đẹp mà tình ý đều không có, lần nào cũng thở dài". Bởi vậy, ông ra sức cổ súy cho phong trào "phục cổ"[5], để rồi Lý Bạch, Đỗ Phủ, Hàn Dũ và Liễu Tông Nguyên là những người tiếp thu, phát triển làm cho phong trào ấy trở nên mạnh mẽ trong thời Thịnh Đường...[6].
Từ chủ trương ấy, ông đã làm được một số bài thơ ưu tú, xây dựng được một phong cách thơ có nội dung, có hình tượng, lành mạnh, chất phác,...chứng minh lý luận ấy là đúng đắn và có sức sống. Đặc biệt là 38 bài "Cảm ngộ" (Cảm cánh gặp gỡ), mượn xưa ví nay, nói lên hoài bão của mình, hoặc nhờ cảnh gửi tình, vạch trần và châm biếm hiện thực, hoặc trực tiếp phản ánh hiện thực. Bài thì đả kích Võ Hậu xây chùa tạc tượng, phung phí tiền của mà "không cứu giúp dân đen" (bài 19), bài thì phơi trần cuộc chiến tranh phi nghĩa (đánh Sinh Khương), mang tai vạ đến cho binh lính và dân lành (bài 29).
Bên cạnh đó, ông cũng có một số bài hoài cổ (như bài "Bạch Đế hoài cổ" [Ở thành Bạch Đế nhớ chuyện xưa], "Kế khâu lãm cổ" [Lên gò Kế xem cảnh năm xưa]) và đề tặng khi ly biệt (như bài "Xuân dạ biệt hữu nhân" [Ngày xuân tiễn bạn])...
Nhìn chung, ông là người có khả năng và cao vọng lớn nhưng không được trọng dụng, nên đã trút nỗi bất bình và buồn chán trong hàng loạt bài thơ.
Về hình thức, thơ ông kế thừa truyền thống "cổ thi ngũ ngôn" ở thời Hán-Ngụy . Bề ngoài, có vẻ "phục cổ", nhưng bản chất lại là "cách tân", dù sự cách tân đó còn nhiều hạn chế [8].
Nói về công lao của ông trong lãnh vực văn học, nhiều nhà nghiên cứu đã đồng ý rằng Trần Tử Ngang là một nhà thơ có vị trí nhất định trong thi đàn đời Đường [8]. Và với công lao "vừa phá vừa xây" của ông, ông xứng đáng được xem là người mở đường cho thơ ca đời Đường phát triển [9].
Giai thoại
Khi Trần Tử Ngang mới đến kinh thành Trường An, ít người biết đến tên tuổi ông. Để gây sự chú ý, ông đã mua một cái cây đàn Hồ cầm ở giữa chợ với giá rất cao, rồi mời mọi người đến nơi ở để xem ông biểu diễn vào sáng hôm sau. Đúng hẹn, khi mọi người đã tụ tập đông đảo, ông nói: "Người đất Thục là Trần Tử Ngang có trăm quyển văn, rong ruỗi đến kinh sư, thế mà vẫn lẫn lộn trong chốn bụi trần, chưa được người đời biết đến. Nhạc khí này chỉ là công cụ của kẻ thợ hèn, há đáng lưu tâm!". Nói xong, ông bèn đập vỡ cây đàn và mang sách ra tặng mọi người. Chỉ trong một ngày mà tiếng tăm ông vang dội chốn kinh thành .

SÀI GÒN CÀ PHÊ

CA KHÚC THƠ PHỔ NHẠC BÀI 239(59)

SÀI GÒN CÀ PHÊ
Trong Tuyền Tập Thơ Phổ Nhạc Tập 3 VỀ PHƯƠNG NAM TÌM MỘT CÁNH CÒ  Thơ Nguyễn An Bình, nhạc Phan Bá Kiệt


SÀI GÒN CÀ PHÊ
       *Những năm gần đây tôi thường về SG giữa khuya
         rồi cũng giả từ vội vã khi nửa đêm về sáng.

Sài Gòn Sài Gòn mù sương
Thành phố cựa mình trở giấc
Ngọn đèn vàng ơi từng tắt
Xôn xao cành lá không tên.

Anh về Sài Gòn trong đêm
Hàng cây đón chào ngái ngủ
Chiếc lá chao nghiêng nhắn nhủ
Về đâu giữa phố chênh vênh.

Sài Gòn Sài Gòn đã quên
Sao lòng mãi luôn nhắc nhở
Cô hàng rong đi vội vã
Tiếng rao mì Quảng đêm đêm.

Chợt thèm ly cà phê đen
Quán cóc đèn khuya gió tạt
Đâu đây cung đàn ai hát
Ru hồn chìm giữa cơn mê.

Sài Gòn Sài Gòn cà phê
Hương thơm quyện mùi đặc sánh
Phía sau ngụm cà phê đắng
Khung trời mắt nhớ đêm xanh.

Rồi ngày sẽ đến loanh quanh
Đời cũng trôi theo mệt lả
Cũng may giữa lòng phố xá
Sài Gòn còn có tình em.
               5/7/2015

Thứ Tư, 1 tháng 4, 2020

XÍCH BÍCH HOÀI CỔ - ĐỖ MỤC




ĐỖ MỤC  杜牧,
 (802-853)  Thời Vãn Đường

赤 壁 懷 古  



Phiên âm
Xích Bích hoài cổ
Chiết kích trầm sa thiết vị tiêu,
Tự tương ma tẩy nhận tiền triều.
Đông phong bất dữ Chu lang tiện,
Đồng Tước xuân thâm toả nhị Kiều.

Dịch nghĩa
Mũi kích gãy nằm trong cát, sắt chưa mòn hết,
Tự tay mình mài rũa, đã nhận thấy dấu vết triều đại vừa qua.
Gió đông ví không thuận tiện cho chàng Chu Du,
Thì cảnh xuân thâm nghiêm của đài Đồng Tước đã khoá chặt hai nàng Kiều.
     DỊCH THƠ
XÍCH BÍCH HOÀI CỔ

Kích gẩy cát vùi sắt chẳng tan
Triều cũ rửa xem dấu rõ ràng
Gió đông nở phụ Chu Công Cẩn
Đồng Tước nhị Kiều khóa tuổi xuân.

                      NGUYỄN AN BÌNH 

 Dưới cát gươm chìm sắt chẳng tiêu
Rửa mài nhận biết việc tiền triều
Gió đông nếu chẳng vì Công Cẩn
Đồng Tước đêm xuân khóa nhị Kiều.
                      PHAN KẾ BÍNH
_____________________________________________________________

1-Xích Bích là một khúc sông trên Trường Giang thuộc tỉnh Hồ Bắc. Đời Tam Quốc, nguyên soái Chu Du nhờ gió đông nổi lên mới dùng hoả công đốt cháy các chiến thuyền của Tào Tháo.
2- Chu Lang: tức Chu Công Cẩn, một tướng tài của Đông Ngô.
3- Nhị Kiều: hai người con gái đẹp của Đông Ngô.
*Đỗ Mục là người Vạn Niên, quận Kinh Triệu (nay là thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây). Nội ông là Tể tướng Đỗ Hựu, từng là một viên quan giỏi về lý tài (coi về tiền bạc), và là một sử gia biên soạn sách Thông điển. Anh ông là Phò mã Đỗ Sùng, từng trải đến chức Tiết độ sứ, rồi Tể tướng. Theo tài liệu, Đỗ Mục có dáng thanh tú, tính thích ca vũ, và có tài văn ngay từ lúc nhỏ .
Năm 828 đời Đường Văn Tông, ông thi đỗ Tiến sĩ lúc 25 tuổi, lại đỗ luôn khoa Hiền lương phương chính, được bổ chức Hiệu thư lang ở Sùng văn quán, rồi lần lược trải các chức: Đoàn luyện tại Giang Tây, Thư ký cho Tiết độ sứ Ngưu Tăng Nhụ ở Hoài Nam, Giám sát ngự sử ở Lạc Dương. Sau đó, ông lần lượt giữ chức Thứ sử tại Hoàng Châu, Từ Châu và Mục Châu. Về sau, ông được triệu về triều làm chức Khảo công lang, Tri chế cáo, rồi làm Trung thư xá nhân.
Năm 853 đời Đường Tuyên Tông, Đỗ Mục lâm bệnh mất lúc 50 tuổi .
Ông được đánh giá là người tài hoa, lãng mạn , thích thanh sắc, nhưng cương trực có khí tiết, không hay để ý chuyện nhỏ nhặt , và xem thường lễ giáo . Trong thư gửi cho Lý Trung Thừa, ông đã nói về mình như sau: "thích rượu, thích ngủ, đã thành cố tật, thường đóng của hàng chục ngày, việc thăm viếng mời mọc cũng nhiều thiếu sót"....

THÂN QUEN

CA KHÚC THƠ PHỔ NHẠC BÀI 238(28)
THÂN QUEN
Trong Tuyền Tập Thơ Phổ Nhạc Tập 3 VỀ PHƯƠNG NAM TÌM MỘT CÁNH CÒ  Thơ Nguyễn An Bình, nhạc Phan Bá Kiệt


KHÁCH LẠ
*Tặng các ông bạn văn nghệ của tui ở Cần Thơ

1.
Tui về ké nhậu một đêm
Khuya đi còn chút hơi hèm đeo xe
Con trăng sạt rụng sau hè
Cầm tay bạn hỏi ngày về… ngẩn ngơ.
2.
Qua cầu gió tạt mưa trôi
Đò giang cách trở một thời rất xa
Lìa quê tóc muối tuổi già
Tui thành mây nổi ráng pha giữa chiều.
3.
Con sông trở dạ nửa chừng
Chia dòng tui đứng lừng khừng tiến lui
Nhớ cô bạn học quá chời
Ngày xưa sao nở bỏ người qua sông.
15/9/2018


HOÀI THƯỢNG HỈ HỘI LƯƠNG XUYÊN CỐ NHÂN -VI ỨNG VẬT


VI ỨNG VẬT  韋應物

  (Khoảng từ năm 735 đến 835), Trung Đường

   

淮 上 喜 會 梁 川 故 人  


Phiên âm
 Hoài thượng hỉ hội Lương Xuyên cố nhân
Giang Hán tằng vi khách,
Tương phùng mỗi túy hoàn.
Phù vân nhất biệt hậu,
Lưu thủy thập niên gian.
Hoan tiếu tình như cựu,
Tiêu sơ phát dĩ ban.
Hà nhân bất qui khứ,
Hoài thượng đối thu san.
    Dịch nghĩa
TRÊN SÔNG HOÀI MỪNG GẶP BẠN CŨ ĐẤT LƯƠNG XUYÊN
Chúng ta từng làm khách ở vùng Giang Hán
Khi gặp nhau, thường uống rượu say sưa trở về
Sau khi bái biệt rồi ta như phù vân
Thời gian cứ trôi đi như nước chảy, đã mười năm.
Bây giờ ta lại vui cười, tình giống như xưa,
Nhưng tóc đã thưa thớt, bạc trắng rồi.
Tại sao mình không trở về quê cũ,
Mà cứ ở trên sông Hoài, đứng trước núi thu?
___________________________________________
Sông Hoài chảy qua các tỉnh An Huy, Giang Tô.

 DỊCH THƠ
TRÊN SÔNG HOÀI MỪNG GẶP BẠN CŨ ĐẤT LƯƠNG XUYÊN


Hán,Giang làm khách quê người
Mỗi lần gặp gỡ bồi hồi ngất say
Chia tay đời tựa áng mây
Thời gian nước chảy đã đầy mười năm.
Vui cười như cũ tình thâm
Mà sao tóc đã hoa râm trên đầu.
Không về thử hỏi vì sao
Để cùng ngắm núi thu sầu trên sông?

NGUYỄN AN BÌNH
(1980)


Từng phen Giang Hán quê người
Gặp nhau, say ngất bồi hồi bước chân
Biệt ly buổi ấy phù vân
Chảy trôi dòng nước, mười năm qua rồi
Tình xưa lại vẫn vui cười
Đầu phơ phất trắng tóc vài sợi thưa
Sao không về lại quê xưa
Mà còn đứng trước núi thu sông Hoài?

TRẦN TRỌNG SAN

 ___________________________________________________________
Vi Ứng Vật là người Trường An (nay là Tây An, thủ phủ tỉnh Thiểm Tây).
Đời Đường Huyền Tông (ở ngôi: 712-756), ông được bổ làm chức Tam vệ lang, được ra vào cung cấm. Sau ông thi đỗ Tiến sĩ, được cử làm Thứ sử Trừ Châu, Giang Châu, rồi Tô Châu; được dân chúng rất mến phục. Năm 792 hoặc 793, đời Đường Đức Tông (ở ngôi: 780-805), Vi Ứng Vật mất, lúc ấy ông khoảng 55 tuổi.
Sinh thời, tính ông chuộng nghĩa hiệp , có lúc cuồng phóng , nhưng cũng rất cao khiết, mỗi lần đi đến đâu, ông cũng cho quét sạch đất, đốt hương rồi mới ngồi. Ông không thích giao du rộng, bạn thơ chỉ có Lưu Trường Khanh, Cố Huống, Thích Hiệu Nhiên; và ông thường ví mình với Đào Tiềm. Theo học giả Nguyễn Hiến Lê, thì Vi Ứng Vật thuộc phái "tự nhiên"  trong lịch sử thi ca đời Đường.

CÁM ƠN NGƯỜI, HOA NỞ VỈ EM

Cả tháng nay nét âu lo hằn lên trên từng nét mặt của từng người khi đại dịch covid-19 bùng phát dữ dội trên toàn thế giới, tôi bắt gặp trên tường fb của người bạn nữ ảnh những đóa hoa hồng vừa mới nở trong vườn nhà với lời nhắn yêu thương "Hoa vẫn nở thắm trên khoảng sân đầy nắng, xin chia đều chút hương thơm đến bạn bè dấu yêu ...", bài thơ xin được viết tiếp chút yêu thượng gởi đến những người thân yêu nhé(ảnh mượn từ fb của người bạn Nguyễn Thiên Nga)

CÁM ƠN NGƯỜI, HOA NỞ VỈ EM
...Cám ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ nỗi lẻ loi
(Ta Về - Tô Thùy Yên)

Hoa vẫn nở trong vườn đầy nắng
Cánh hồng còn đọng giọt sương đêm
Tiếng dế khuya vừa nghe đất thở
Sáng đã xanh từng ngọn cỏ non.

Hoa vẫn nở giữa mùa đại dịch
Hương vẫn nồng dẫu biết phù du
Nhụy như tơ vương tà áo lụa
Lòng chợt mềm trong mắt tiểu thư.

Hoa vẫn nở bình minh lên nhé
Thắp niềm tin qua những môi cười
Sao kiếp người mong manh đến vậy
Ngày quá dài tiếng gọi mòn hơi.

Hãy đến gần nhau còn có thể
Để nghe tiếng lá gọi chim về
Hót khúc tình ca dù rất muộn
Trên những con đường trải lá me.

Hoa vẫn nở như sông vẫn chảy
Thế giới nầy rồi sẽ bình yên
Hãy bao dung yêu người mà sống
Cám ơn đời, hoa nở vì em.
1/4/2020
*Viết trong những ngày đại dịch Covid-19 bùng phát.




BÌNH THỦY MỘT KHÚC XUÂN

CA KHÚC THƠ PHỔ NHẠC BÀI 237(27)
BÌNH THỦY MỘT KHÚC XUÂN
Trong Tuyền Tập Thơ Phổ Nhạc Tập 3 VỀ PHƯƠNG NAM TÌM MỘT CÁNH CÒ  Thơ Nguyễn An Bình, nhạc Phan Bá Kiệt


BÌNH THỦY MỘT KHÚC XUÂN

Có Bình Thủy trong anh ngày mới lớn
Đêm vàm kinh thương con nước lớn ròng
Mùa lễ hội nhớ hoài trong tiềm thức
Trước sân đình rộn tiếng trống kỳ yên.

Ngôi nhà cổ rêu phong cùng mưa nắng
vườn lan xưa ong bướm có quay về
Vườn cây trái bốn mùa xanh quả ngọt
Gái miệt đồng lòng chơn chất tình quê.

Theo anh về Cồn Sơn đi em nhé
Đò qua sông say điệu lý huê tình
Tay vóc nước ngọt phù sa sông Hậu
Em có yêu thương sông nước quê mình?

Bông bần trắng mùa nầy bay như  bướm
Trái đong đưa căng nhịp sống xuân thì
Thương  cô gái tóc miệt vườn xanh mướt
Khuất bóng rồi còn vương vấn người đi

Sáng em về ngang vườn hoa Bà Bộ
Cho anh theo cùng neo đậu bến quê
Lòng thiếu nữ  rộn ràng hây má đỏ
Như sắc hoa tươi đón nắng xuân về.