Thứ Hai, 8 tháng 11, 2021
KHÔNG AI ĐỨNG NGOÀI CUỘC CHIẾN
CA KHÚC PHỔ THƠ MỚI THÁNG MẤY NGƯỜI VỀ
VÕ CHÂN CỬU-HỒN THƠ TRÔI THEO "NGỌN GIÓ" ĐÃ BIỀN BIỆT PHƯƠNG NÀO
BÀI CẢM NHẬN CỦA LƯƠNG THIẾU VĂN VỀ TẬP THƠ "NGỌN GIÓ" CỦA NHÀ THƠ VÕ CHÂN CỬU TRÊN TẠP CHÍ NGÔN NGỮ 16-HOA KỲ THÁNG 11-12/2021
VÕ CHÂN CỬU-HỒN THƠ TRÔI THEO "NGỌN GIÓ" ĐÃ BIỀN BIỆT PHƯƠNG NÀO
CẢM NHẬN TÁC PHẨM:
VÕ CHÂN CỬU – HỒN THƠ TRÔI
THEO “NGỌN GIÓ” ĐÃ BIỀN BIỆT PHƯƠNG NÀO
*LƯƠNG THIẾU VĂN
Nhà thơ Võ Chân Cửu tên thật là Văn Hưng, sinh năm 1952 tại Phù Cát, tỉnh
Bình Định. Từ những năm cuối theo học bậc phổ thông trung học, Võ Chân Cửu đã
có thơ đăng trên các báo, tạp chí văn học ở miền Nam. Năm 1972, khi mới tròn 20
tuổi, Võ Chân Cửu đã trình làng thi phẩm "Tinh Sương". Và chỉ một năm sau, anh xuất bản tiếp tập thơ "Đại Mộng".
Sau năm 1975, Võ Chân Cửu làm báo, viết sách và tiếp tục làm thơ.Các bút danh anh thường sử dụng: Võ Chân Cửu, Tuy Viễn, Hưng
Văn.
Ngoài hai tập thơ “Ngã Tư Vầng Trăng” và “Trước Sau”, nhà thơ Võ Chân Cửu còn
phát hành ba cuốn chân dung - tiểu luận là “22 Tản ạn”, “Theo Dấu Nhà Thơ” và
“Vén Mây”. Anh mất ngày 23/12/2020 tại Bảo Lộc Lâm
Đồng.
Tập thơ “Ngọn
Gió” anh gởi
tặng tôi khá lâu trong một dịp anh về Sài Gòn rong chơi cùng bạn bè. Tập thơ tập hợp 153 bài thơ, chủ yếu trích từ 3 tập thơ đã xuất bản: Tinh
Sương(Thi Ca, Sài Gòn 1972), Đại Mộng(Nhị Khê, Sài Gòn 1973), Ngã Tư Vầng
Trăng(NXB Trẻ 1990), Trường ca Quảy Đá Qua Đồng(1974) và các bài thơ viết từ
1972-2011 chưa in trong sách nào.
Lúc sinh thời nói về thơ, Võ Chân Cửu nêu rõ quan điểm của
mình:"... Dù bắt nguồn từ khuynh hướng hay trường phái nào, tác phẩm văn
chương, nhất là thơ ca cũng phải từ cảm xúc con người. Khi cảm xúc bị tác động
thì trong lòng phát ra lời với âm hưởng và tiết tấu. Đó được gọi là Thơ. Như
vậy, Thơ dùng biểu lộ tình cảm và tư tưởng con người". Điều đó thật
là dễ hiểu và trước sau con đường thơ của anh đã đi theo luồng cảm nghĩ như thế.
BÀNG BẠC TRONG NGỌN GIÓ LÀ TÌNH YÊU ĐỐI VỚI QUÊ NHÀ
Đọc
tập thơ “Ngọn Gió”, đều cảm nhận đầu tiên của tôi là tình cảm đối với quê nhà
bàng bạc rất nhiều trong thơ anh. Nó như hạt sương sớm hay ngọn gió chiều thổi
qua cánh đồng cô quạnh, một cảm giác mơ hồ mà anh gọi đó là cố hương:
Nước chè hai trăng dẫn lên nguồn
Tôi không về nước chảy đi luôn
Đêm nghe nhịp máu gần gang tấc
Biết bao giờ trở lại cố hương
(Cố hương)
Theo tác giả
Việt Hiền trong bài “Nhà thơ Võ Chân Cửu về với mây trời” làng cũ mà Võ Chân Cửu nói ở trên chính là thôn Tân Thanh,
xã Cát Hải, nơi chôn nhau, cắt rốn của nhà thơ. Vùng đất này xuất hiện khá
nhiều trong thơ Võ Chân Cửu, với những địa danh: Chợ Cách Thử, hòn Đá Tượng, mả
ông Năm… Hãy xem bức tranh quê qua ký ức của Võ Chân Cửu:
“Cố hương đèo nối ba truông
Đón ma họp chợ bán buôn rộn ràng
Xưa theo chân mẹ về làng
Chỉ nghe gió thổi cát vàng mênh mông
Bây giờ xanh ngát hư không
Trưa nằm nhắc chuyện viễn vông nhớ nhà
Làng xưa vắng bóng người qua
Nồi trôi phố chợ lòng ta ngậm ngùi”
(Phố Chợ)
Nhà văn Mang Viên Long có lẽ cùng đồng hương với nhau nên có những đồng cảm
sâu sắc khi đọc “Ngọn Gió”:
Quê nhà trong thơ Võ Chân Cửu đã
được chuyển hóa qua bao cuộc thăng trầm, qua bao niềm nhớ thương hiu quạnh; nên
đọc thơ anh chúng ta dễ đồng cảm, dễ có niềm cảm thông sâu sắc, bởi chính đó
cũng là một chốn “quê nhà chung”:
“Mặt trời đã khuất
non tây
Nghìn con nhạn lại bơi đầy trong không
Theo luồng khói phủ xa trông
Chốn quê quán cũ mây lồng bóng mây”
(Chốn Cũ)
Chìm nổi giữa chốn “quê nhà” thê lương, hiu hắt – nhà thơ
luôn cảm thấy một nỗi “cô quạnh” thường trực bên đời:
“Lạnh tanh nhà lộng gió
Cú kêu ngoài hàng tre
Sương tan mờ dấu cỏ
Người đêm nay không về”
(Cô Quạnh)
Nổi bật nhất có lẽ là
bài thơ Quê nhà của anh viết theo thể thơ năm chữ, là thể thơ anh sử dụng rất
nhiều trong tập Ngọn Gió, gồm 36 đoạn với 148 câu thơ, quê nhà là hoa cỏ, sao mọc
đầu hôm, canh gà, tiếng dế, màu trăng, suối reo, bến nước con đò, tà dương núi
biếc, là miền Đại Hoang... là tất cả hình ảnh đời thường trong cuộc sống từ thuở
bé thơ hay trong suy nghĩ viễn mơ chập chờn trong ký ức của anh:
Ta
nghe lời em nói
Trong
sao mọc đầu hôm
Và
gió mây cũng gọi
Người
về trên cô thôn...
Sớm
mai trời đất nhẹ
Lòng
ta như phiêu bồng
Nhìn
non xa be bé
Mây
trắng chảy cùng sông...
Nên khi trở thành đám mây viễn xứ thì quê nhà
trở thành khói sương, lãng đãng trong tháng ngày phiêu hốt đó đây hay đôi lúc
trăn trở trong cuộc sống áo cơm còn nhiều gian khó:
Đêm
nào chờ trăng lặn
Nghìn
xưa sao bên hồ
Khi
thấy trên trời vắng
Khói
sương đã phủ mờ...
Ta
nghe lòng giục giã
Trong
khuya vắng canh gà
Mười
năm theo mây nổi
Ta
đánh mất quê nhà...
Cô
độc dặm tà dương
In
dày qua núi biếc
Mây
trắng miền cố hương
Bay
dưới chân người bước...
Khi đọc Quê Nhà, nhà văn Võ
Phiến đã có suy nghĩ sâu sắc và tinh tế: “Này xem: Xa làng lâu ngày, một hôm
trở về ông thấy núi thấy mây ở quê mình:
“Bỗng nhiên lạnh cả hồn tôi
Khi trông thấy dáng núi ngồi co ro
Mười năm làng cũ không về
Đăm đăm mây trắng lê thê mái đầu.”
(Đăm đăm mây trắng)
Trên đất nước nầy, bạn có từng
bắt gặp cái núi ở nơi nào nó ngồi như vậy không? Bạn ngờ rằng thứ núi co ro
đáng hãi nọ ngẫu nhiên là đặc cảnh địa phương chăng? Không phải vậy đâu. Không
cần nhìn cảnh làng mình Võ Chân Cửu mới thấy ra vậy; ngay lúc đi giữa thành phố
Sài Gòn ông cũng thấy những cái khó có người thấy:
“Ngã ba ngã bảy xe đi khuất
Cơ khí xen cùng nhịp gió mưa
Tiếng ma thiên cổ vong u uất
Vắng lặng buồn xo suốt bốn mùa.”
(Sài Gòn)
(Văn học Miền Nam tập IV-Thơ, nxb Văn Học, California
1998)”
Ngoài bài thơ Quê
Nhà, trong tập Ngọn Gió làm ta chú ý đến là bài “Chùa Cổ Bên Sông” cũng viết
theo thể thơ ngũ ngôn, bài nầy lần đầu tiên được in trên tuần báo Khởi Hành năm
1969 lúc tác giả mới 17 tuổi, thoạt đầu người đọc có thể lầm tưởng tác giả đang
ở lứa tuổi trung niên vì thi pháp già dặn của nó. Nhà thơ Nguyễn Lương Vị lúc
còn sống đã có những suy nghĩ khá thú vị về bài thơ:
“Theo tôi, đây là bài thơ xuất thần nhất trong Tinh
Sương. Thi sỹ viết như nhập đồng, thơ chảy trôi một mạch như khúc đồng dao,
nhịp theo tiếng mõ thánh thót như những giọt sương trời, vang vang, lắng
lắng. Chùa cổ, sông, là biểu tượng đầy ẩn dụ: Động và tĩnh, xa và
gần, mộng và thực, dìu dặt âm vang, quyện vào nhau trong tiết điệu lung linh,
chập chùng, trùng điệp. Bài thơ có thể tụng (gọi một cách phiêu bồng là “thi
tụng”) với nhịp ngân nga trầm bổng, hay có thể hát lên một mình trong đêm thanh
vắng. Tụng hay hát, nhả giọng khoan thai từng chữ, câu chuyện kể sẽ ánh lên một
âm vang và sắc màu vừa thực vừa mộng. Tụng hay hát, sẽ bật lên tiếng ca xang bi
mẫn giữa bóng đời dâu bể trầm luân. Em là ai? Là duyên nghiệp trùng trùng, là
vết thương tâm “bạc áo nâu sồng/ kiệt trên đời cũ” của kiếp
người ảo hóa mong manh. Bài thơ thấm đẫm mùi Đạo mà ngan ngát hương Đời, nên
không có chỗ dừng. Càng tụng, càng hát, càng lung linh âm vang và sắc
màu, “Sông nước chập chùng/ Nước xô thiên địa/ Chùa cổ bên sông…”
...Tinh
Sương, đúng như tên gọi, một giòng thơ
lung linh, trong veo trong vắt, nhất khí từ bài đầu đến bài cuối. Âm vang, có
một chút gì đó hiu hắt, lành lạnh, trầm trầm. Sắc màu, có một chút gì đó vừa ảo
diệu, vừa mênh mông. Chữ trong mạch thơ, hình như thi sỹ cố ghìm lại những
tiếng nấc thảng thốt của buổi đầu đời, khi bắt đầu cảm nhận được cái cô liêu,
côi cút, bơ vơ của kiếp người.”
Từ khi rời quê
nhà và trên bước đường viễn xứ của mình, mỗi một vùng đất anh đi qua, mỗi một
con đường anh bước, mỗi một cảnh vật anh nhìn, trong mắt anh những vần thơ lại
rung lên theo bước chân lang bạt của anh, lúc mộc mạc chân tình, lúc tha thiết
lắng đọng, lúc suy tưởng mơ hồ nhưng tựu trung đều là những tình cảm rất thực,
rất hồn nhiên:
...Muốn ngồi lại bên cầu gom ít nắng
Sưởi lên từng đá tảng bậc thềm rêu
Con nước chảy lòng tôi đành lỗi hẹn
Mây phiêu du xin gởi lại trong chiều...
(Những buổi chiều Sông Bé)
...Em là ai – tôi không biết từ đâu
Một thoáng hiện rồi đi, tan biến mãi
Cho trĩu nặng lòng tôi khi nhớ lại
Đêm Cà Mau đêm Cà Mau đêm rất lâu.
(Đêm
Cà Mau-1988)
Anh cũng không
thể ngờ rằng bài thơ B’lao anh viết năm 1986 trong một lần thoáng qua lại là
nơi gắn bó cuộc đời mình ở những ngày cuối đời, âu cũng là định mệnh:
Tôi về hỏi lại rưừng cao
Bóng mây năm cũ hôm nào còn bay
Chiều lên nắng tắt theo ngày
Ánh trăng nhưư thể nghìn tay ai cầm...
...Tôi về hỏi lại rưừng cao
Đừng quên em nhé nghìn sao tiếng thầm!
Trong bài
viết “Tản Mạn Cùng Võ Chân Cửu” khi đánh giá về thơ anh, nhà giáo Huỳnh Như
Phương có nhận xét: “Nói về thế hệ cùng thời với Võ Chân
Cửu, cách phân loại vừa quen thuộc vừa dễ dãi được một số người chấp nhận lâu
nay: khuynh hướng “dấn thân” và khuynh hướng “viễn mơ”. Nhưng ranh giới giữa
hai khuynh hướng đó đâu dễ phân định. Chỉ cần đặt câu hỏi: dấn thân về đâu mới
là dấn thân đích thực? Và người ta có thể dấn thân mà không cần viễn mơ? Thậm
chí, người dấn thân có thể cũng là người mơ tưởng hão huyền nhất!
Dù sao, trong văn cảnh miền Nam thời
đó, Võ Chân Cửu dễ được xếp vào nhà thơ “viễn mơ”, căn cứ vào thi hứng, thi tứ
và cả nhan đề tác phẩm của ông: Tinh sương, Đại mộng, Tà
huy, Bóng trăng ngàn, Đường vô núi, Sáng thinh không, Ngã tư vầng trăng, Quẩy
đá qua đồng, Chùa cổ bên sông… Con đường “viễn mơ” đó bao đời nay đã là một
dòng lớn của thi ca Việt Nam.
(Tản mạn với Võ Chân Cửu-Huỳnh Như Phương)
Đúng như
nhà thơ Trịnh Bửu Hoài viết về anh: “Qua bộ tản văn nầy tôi mới
biết Võ Chân Cửu đi nhiều, gặp gỡ và sống cùng nhiều anh em văn nghệ thời bấy
giờ, nhất là các tỉnh miền Trung quê anh. Vào Sài Gòn học, anh có điều kiện tiếp
cận giới văn nghệ nhiều hơn. Điều đáng khâm phục ở anh không chỉ là máu giang hồ
mà anh còn có một trí nhớ rất tốt. Đến với bạn bè, anh có một tấm lòng, một
chân tình mới có được những kỉ niệm đẹp như thế.”
Đối với tôi, được
đọc thơ Võ Chân Củu từ những ngày đầu khi anh mới bắt đầu xuất hiện trên văn
đàn cho đến mãi sau nầy giọng điệu, hồn thơ vẫn giữ được một bản sắc cho riêng
mình không thay đổi dù trải qua muôn vàn biến động của thời gian và không gian,
có điều càng về sau càng trầm lắng và chiêm nghiệm, mạch nguồn thơ vẫn trong
trẻo, hồn nhiên mang hơi thở, sức sống tiềm tàng. Thơ anh không mang vẻ huyền
bí, cách tân hay dị biệt mà chỉ là tiếng lòng của một nhà thơ chân chất hồn hậu
trước cuộc sống muôn màu muôn vẻ.
CHIA TAY NGƯỜI ANH, NGƯỜI BẠN THƠ VÕ CHÂN CỬU
Chiều tối ngày 23/12/2020 qua thông tin trên fb của gia
đình và một số bạn bè thân cận, tôi biết được nhà thơ Võ Chân Cửu đã ra đi lúc 18g30
tại Bảo Lộc trong vòng tay ấm áp của gia đình. Sau đó linh cửu được chuyển về
Pháp viện Minh Đăng Quang số 505 Xa lộ Hà Nội, Q2 Tp HCM và hỏa táng ngày chủ
nhật 27/12/2020.
Nay anh đã rời xa cõi tạm, xa những người thân yêu quí,
xa bạn bè văn nghệ, anh ra đi thật nhẹ nhàng như ngọn gió sớm mai, phiêu bồng
và thanh thản như ở bài thơ “Quê Nhà” trong thi phẩm đầu tay “Tinh Sương” của
anh viết khi mới 20 tuổi:
...Bước chân về muôn
dặm
Đường trưa mờ bóng ma
Đôi mắt chưừng u ám
Tiếng ngàn khi bay qua...
...Mây bay từ thiên cổ
Cùng nhau trời đất tan
Ta một linh hồn nhỏ
Vơ vẩn miền Đại Hoang.
Từ nay giọt lệ
“Tinh Sương” đã trôi qua vùng trời “Đại Mộng”, không còn ai
hát khúc trường ca “Quảy Gánh Qua Đồng” để tìm tri kỷ ở “Ngã Tư Vầng Trăng”, nhìn
lại“Trước Sau” không một bóng hình, biết ai còn nhớ người gọt bút viết “22 Tản
Mạn” đi “Theo Dấu Nhà Thơ”. Thôi thì “Vén Mây” xin khép lại để hồn thơ theo “Ngọn
Gió” lên trời, viễn du ở một thế giới khác nhẹ bước giang hồ anh Võ Chân Cửu
nhé.
Bên bờ Kênh Tẻ, tháng 9-2021
LƯƠNG THIẾU VĂN
_________________________________________________
Tham
khảo:
1-
Tập san Quán Văn 46 Vào Hạ, Chân dung văn học nhà thơ Võ Chân Cửu
2-
Võ Chân Cửu: Trước sau đều của riêng mình của Nguyễn Lương Vị
3- “Quê
Nhà” trong thơ Võ Chân Cửu của Mang Viên Long
4-
Thương nhớ nhà thơ Võ Chân Cửu của Trần Trung Sáng
5-
Một thời không quên của Trịnh Bửu Hoài
Chủ Nhật, 7 tháng 11, 2021
CHÉN NGỌC TRƯƠNG CHI
TRUYỆN NGẮN
CHÉN NGỌC TRƯƠNG CHI
*Nguyễn An Bình
Nợ tình chưa trả cho ai
Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan.
(Truyện Kiều-Nguyễn Du)
Vào
những ngày mùng một và ngày rằm mỗi tháng, bao giờ trường học của quan tư đồ Vương
Doãn cũng tấp nập môn sinh, vì đây là những ngày bình văn thường kỳ.Tháng thì bình
thơ, khi thì văn, phú, tế, biểu, đối…. Tất cả các loại văn cần thiết trong thi
cử điều được quan tư đồ ra đề để các môn sinh rèn tập và chuẩn bị từ trước đến đợt
bình văn đem ra thi thố và luận bàn. Quan tư đồ Vương Doãn từng giữ chức vụ cao
trong triều và từng là thầy dạy của đương kim hoàng thượng bây giờ. Nên khi ông
cáo lão từ quan về mở trường dạy học thì từ các bậc công hầu khanh tướng trong
triều cho đến các gia đình giàu có ở kinh đô đều mong muốn gởi gấm con cháu của
mình đến học cùng ông để có thể nên danh nên phận sau nầy. Ông dạy rất nghiêm
minh và cẩn trọng không hề thiên vị một môn sinh nào dù đó là con của quan to
chức trọng hay con của hoàng thân quốc thích đi chăng nữa, nhiều học trò ông đổ
đạt cao và có danh phận trong triều. Trước ngày bình văn ông đều yêu cầu các môn
sinh nộp quyển để ông chấm qua đó ông chọn chừng năm quyển được ông phê ưu đem
ra bình và chính tác giả của những quyền đó phải đọc cho các bạn đồng môn nghe
và lắng nghe lời những nhận định cũng như giải đáp những vướng mắc của các môn
sinh khác.
Lần nào cũng thế, trong năm quyển được chọn bao giờ cũng có quyển của
con trai quan ngự sử Trương Học Phi. Không phải quan tư đồ vị nể người môn sinh
ấy là con quan ngự sử, bạn thân của ông mà là tài học của chàng trai mười sáu
tuổi ấy thật nổi trội, văn chương lưu loát, lập luận sắc sảo mà lời bình văn thì
thật hấp dẫn, lôi cuốn.Trương Chi đối đáp rất linh hoạt, đầy sức thuyết phục.
Nhiều bạn đồng môn ganh với tài học của chàng tìm mọi sơ hở trong bài văn để đặt
câu hỏi nhằm bắt bí, hạ thấp chàng đều thất bại. Quan tư đồ đặt nhiều kỳ vọng vào
người học trò yêu quí của mình trong kỳ thi năm nay sẽ chiếm bảng vàng đem lại
vẻ vang cho ông và gia đình quan ngự sử. Nhưng một tai họa khốc liệt xảy ra đã
làm đảo lộn những dự tính tốt đẹp đó, một trận hỏa hoạn cực lớn đã thiêu rụi cả
ngôi nhà của quan ngự sử, già trẻ lớn bé không một ai sống sót chỉ trừ Trương
Chi. Dân chúng quanh vùng không hiểu vì sao ngọn lửa lại lan nhanh đến thế, có
người cho rằng trời cao không có mắt nên tai họa đổ xuống gia đình một viên
quan thanh liêm, chính trực, có người hiểu chuyện, chép miệng than: Đời nào cũng
thế, bọn tham quan ô lại đầy rẫy, chống lại nó, nó mà không chết thì mình phải
chết thôi. Vì cách đây không lâu quan ngự sử đã dâng sớ lên vua xin trị tội bảy
kẻ nịnh thần, tham quan nhất là sau vụ vỡ
đê ở sông Nhĩ Hà, bọn chúng đã ăn xén vật tư, kê khống ngày công nhân lực để bỏ
túi riêng, chia nhau làm giàu gây nên hậu quả nghiêm trọng khôn lường chẳng
những bòn rút ngân khố ngày càng khánh kiệt mà còn làm khổ lê dân bá tánh trăm
đường lầm than.
Việc điều tra nghi án vụ phóng hỏa giết người nhà quan ngự sử không đi đến
đâu vì triều đình không tìm được chứng cứ hay kẻ gian hùng đã xóa sạch mọi dấu
vết, thế lực quá mạnh chăng thì không ai biết, cuối cùng theo thời gian cũng trôi
vào quên lãng. Chỉ tội cho Trương Chi, mặc dù thoát chết trong cơn hỏa hoạn khủng
khiếp đó, nhưng khuôn mặt thanh tú của chàng hầu như bị hủy hoại hoàn toàn, cũng
may đôi mắt và thanh âm không bị hư tổn. Trương Chi được người chú ruột đem về
nhà chăm sóc, nuôi dưỡng gần một bến sông. Ông
nầy làm nghề chèo đò, đánh cá trên sông để sinh sống qua ngày. Sau mấy tháng chữa
trị thì Trương Chi cũng bình phục nhưng gương mặt không còn lành lặn như xưa, nó
biến dạng đến nổi chàng không còn muốn nhìn vào gương nữa. Để khỏi làm người khác hoảng sợ vì gương mặt dị dạng của
mình Trương Chi luôn đội chiếc nón rộng vành kéo sụp xuống, phía trước mặt được
che thêm một miếng vải mỏng sậm màu che khuất đi phần da mặt bị kéo nhúm lại vì
bỏng. Rồi người chú cũng qua đời, Trương Chi trở thành người lái đò, đánh cá độ
nhật trên sông từ đấy.
Làm bạn với chàng từ nay là con đò, hằng ngày lênh đênh trên sông nước để
mưu sinh, nỗi cô đơn buồn tủi với thân phận đắng cay nghiệt ngã Trương Chi chỉ
còn biết gởi gấm qua tiếng sáo, giọng hát của mình. May mắn ngọn lửa đã không lấy
mất những gì còn lại của chàng.Tiếng sáo vẫn du dương, đằm thắm, giọng hát vẫn mượt mà trôi chảy, có khác chăng
là giờ đây nó chất chứa nỗi buồn nhiều hơn vui và cũng từ đây trên bến sông nầy
người ta quen dần với một anh ngư phủ có tiếng sáo và giọng hát tài hoa làm say
đắm lòng người. Từ nay chuyện thi cử, danh hoa phú quí không còn vướng bận lòng
chàng, nó chỉ còn là những bọt sóng cuối bãi đầu ghềnh chiều hôm mà thôi.
Trên bến sông nầy có một dinh thự của viên quan thượng thư bộ hình Trần
Công. Ông cho xây dinh thự nầy để làm vui
lòng người con gái mà ông hết lòng yêu quí: tiểu thư Trần Mị Nương. Mị Nương tuổi
vừa đôi tám, nhan sắc xinh đẹp tuyệt vời, tính nết lại thùy mị đoan trang nên
nhiều gia đình quyền thế trong kinh thành cho người đến dạm hỏi, mai mối nhưng
nàng chưa nhận lời ai cả, quan thượng thư vì yêu con nên cũng không nài ép làm
gì. Không giống như những gia đình vọng tộc khác, nàng Mị Nương xinh đẹp ngoài
việc thêu thùa khéo léo, nàng còn được phụ thân mướn thầy về dạy học cho nàng nên
cầm kì thi họa môn nào nàng cũng am tường cả. Cảnh tấp nập chốn kinh thành làm
nàng mệt mỏi không vui nên quan thượng thư cất riêng cho nàng dinh thự gần bến
sông nầy, sống gần gũi với thiên nhiên, cây cỏ phù hợp với tâm tánh giản dị của
nàng. Một đêm trăng thanh gió mát, Mị Nương trằn trọc không ngủ được, nàng bước
ra hiên ngoài vọng lâu để ngắm trăng cho khuây khỏa thì từ xa phía bến sông tiếng
sáo cất lên lúc khoan lúc nhặt, chơi vơi, chất chứa nỗi buồn nhân thế đã làm
rung động tâm hồn của nàng tiểu thư con nhà đài các.Trái tim chưa hề biết rung động
của Mị Nương với nhạc khúc tình yêu đã bắt đầu xao xuyến. Trên bến sông vắng Trương
Chi vẫn thả hồn theo tiếng sáo u hoài.Tai họa đã cướp đi của chàng tất cả nhưng
đã bù đắp cho chàng tiếng sáo tài hoa đa cảm.Tiếng sáo cất lên nói thay lòng chàng,
như an ủi cuộc đời đầy nghiệt ngã mà chàng phải hứng chịu. Trương Chi đâu biết
rằng nơi lầu son gác tía ở bên sông kia đang có một cô tiểu thư xinh đẹp đang
say đắm thả hồn theo tiếng sáo của chàng.
Mị Nương nhờ nàng hầu nữ Nghi Xuân dò hỏi xem ai là người thường thổi sáo
trên bến sông ấy thì được biết đó là một chàng trai sống nghề hạ bạc tên Trương
Chi. Rung động trước tiếng sáo tài hoa ấy nàng muốn tìm gặp mặt nhưng nàng hầu
nữ Nghi Xuân cố sức can ngăn vì quan thượng thư biết được sẽ rất nguy hiểm và
ngăn cấm. Thấy chủ có vẻ không vui buồn bã nên Nghi Xuân bèn bày kế cho Mị Nương
nói dối quan thượng thư đi vãn cảnh rồi giả dạng nam nhân xuống bến sông mướn đò
đi du ngoạn để có dịp được nghe lại tiếng sáo tài hoa đó. Ngồi trên đò xuôi
theo dòng nước một lúc lâu chàng công tử họ Trần kia không biết phải bắt chuyện
từ đâu. Mùa nầy bông lau nở trắng cả triền sông, xa xa vài chiếc thuyền đánh cá
tung chài trên sông nước và màn sương còn lãng đãng trên đầu cây ngọn cỏ, phong
cảnh thật hữu tình. Công tử họ Trần cao hứng cất tiếng ngâm:
Khứ niên kim nhật thử môn trung
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Hai câu thơ trong bài Đề tích sở kiến xứ của
Thôi Hộ đời Đường. Ở câu thơ thứ hai chàng công tử họ Trần cố ý ngân dài ra chậm
lại rồi dừng hẳn. Không gian như chìm vào cõi không tịch mịch thì bỗng phía sau
mũi đò cất lên một tiếng ngâm đầy thanh tú:
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong.*
Cả hai thầy trò công tử họ Trần
cùng quay mặt lại mũi đò, cậu tiểu đồng Nghi Xuân cười lém lỉnh nhìn về cô chủ
như thầm khen tiểu thư nhà mình thông minh thật. Chàng công tử họ Trần lộ vẻ hân
hoan, hai tay cung kính trước mặt, hỏi người lái đò:
-Thì ra huynh cũng là người am hiểu thơ phú. Thành thật xin lỗi huynh, đệ
đã dám múa rìu qua mắt thợ rồi.
Người lái đò lật đật buông mái chèo, hai tay cung kính đáp lễ:
-
Xin công tử thứ lỗi
tôi đã làm mất nhã hứng ngâm thơ của công tử, thấy công tử dừng lâu quá bất giác
tôi đọc tiếp hai câu sau cho tròn nghĩa mà thôi.
-
Huynh là người có
học ,sao không cố chí học hành để mai sau vinh hiển lại làm nghề hạ bạc nầy?
-
Xưa thân phụ còn
sống có được cho học đôi ba chữ thánh hiền. Nay thân phụ mất nhà nghèo làm nghề
sông nước sống cho qua ngày, không dám mơ cao.
Công tử họ Trần đề nghị:
-
Nếu được phép đệ
có thể kết bằng hữu với huynh được chăng?
Chàng lái đò vội vã từ chối:
-
Tôi không xứng đáng
làm bằng hữu với công tử đâu, thân phận tôi nghèo hèn, công tử thứ lỗi cho.
Nhưng trước tấm chân tình của
chàng công tử họ Trần, Trương Chi không tiện từ chối. Cuộc gặp gỡ lần đầu của họ
là như thế, tuy chưa thật sự gần gũi, thân mật nhưng hình như đã có mối dây ràng
buộc họ như một định mệnh đã an bày.Hai người hẹn nhau mỗi tháng sẽ gặp mặt
nhau một lần. Chàng Trương thì thổi sáo, còn công tử họ Trần thì ngâm thơ.
Đôi lúc họ ra đề cho nhau cùng đối họa thơ phú,
trăm phần tương đắc. Từ ngày được kết bạn với Trần Công Tử, tiếng sáo của Trương
Chi không còn u oán, buồn bã nữa, tiếng sáo lại cất lên âm điệu réo rắt, yêu đời
như thuở chàng còn là môn sinh của quan tư đồ Vương Doãn.Trương Chi đã vẽ tặng
cho Trần công tử một bức chân dung với gương mặt thật xinh đẹp giống như một nàng
thiếu nữ diễm tuyệt, tay đang xòe quạt, trên thân quạt có đề bài thơ của Thôi Hộ như là kỷ niệm nhờ bài thơ mà hai người kết bằng
hữu với nhau. Nhìn bức tranh khi vẽ xong Trương Chi chợt ao ước phải chi Trần công
tử là gái nhỉ? Chỉ suy nghĩ đến đây thôi là chàng đã vội xua đi cái tư tưởng điên
rồ ấy ra khỏi đầu óc của mình. Riêng Trần công tử có vẻ thích bức tranh mỹ nam
nhân của mình lắm, đem về treo trong phòng ngắm nghía rồi tự hỏi: Nếu Trương
Chi biết mình là gái thì sao nhỉ? Chỉ nghĩ đến đó thôi Mị Nương đã ửng hồng đôi
má không dám nghĩ tiếp nữa. Nhiều lần gặp gỡ, ngâm vịnh trên đò Trần công tử dợm
hỏi xin được xem rõ mặt người bằng hữu của mình nhưng Trương Chi lại khéo léo từ
chối, lấy lí do mình bị dị dạng từ nhỏ nên không sợ làm hoảng hốt người khác.Thấy
chàng Trương từ chối quyết liệt nên Mị Nương thôi không đề cập đến nữa nhưng cứ
thắc mắc mãi. Những lần không có dịp gặp gỡ Mị Nương lại lên vọng lâu nhìn về bến
sông lắng nghe tiếng sáo của Trương Chi theo gió đưa về mà miên man nghĩ về mối
tình chớm nở lớn dần theo năm tháng của mình đối với chàng Trương mà mỉm cười hạnh
phúc.
Một hôm trong lần gặp mặt, đò đang xuôi theo dòng thì cơn dông bắt đầu ập
đến, Trương Chi vội quay mũi để tấp đò vào bờ, gió mạnh đã hất tung chiếc nón rộng
vành mà chàng đang đội. Hoảng hốt chàng vội với theo nắm giữ, nhưng không kịp nữa
rồi, chiếc nón đã rơi xuống sông, cùng lúc ấy là một tiếng kêu á đầy sửng sốt
kinh hoàng của Trần công tử. Vô cùng lo sợ,Trương Chi luống cuống lấy tay che mặt
quay lại nhìn. Trần công tử đã ngã nhoài xuống sạp gần như bất tỉnh, chiếc mũ đội
đầu văng mất hồi nào không biết, lộ ra mái tóc dài xỏa xuống bờ vai.Trương Chi
há hốc miệng, kinh ngạc:
- Trần công tử là…là…
Tên tiểu đồng Nghi Xuân trong cơn hoảng
loạn hét lớn:
- Trần công tử, Trần công tử cái gì? Đó là Trần tiểu thư con quan thượng
thư đó. Người chèo đò tấp vào bờ mau, kêu phu kiệu đưa tiểu thư về dinh để chữa
trị không nguy mất.
Thì ra khi cơn gió làm tốc chiếc nón rộng
vành hằng ngày che khuất gương mặt xấu xí của Trương Chi, Mị Nương đã kịp nhận
ra một gương mặt dị dạng, gớm giếc mà chàng cố gắng che giấu, sợ làm tổn thương
đến người khác, nàng hoảng hốt ngất đi vì sợ hãi. Chuyện không thể giấu được nữa
rồi, cái ngày mà Trương Chi lo sợ đã đến nhưng chàng không ngờ là nó đến nhanh
như vậy.
Suốt mấy ngày hôm sau Trương Chi lảng vảng
nơi cửa dinh quan thượng thư để dò la tin tức nhưng không được gì, cũng không
thấy con hầu nữ Nghi Xuân xuất hiện. Sốt ruột chàng lân la dò hỏi quân canh thì
bọn chúng xua đuổi chàng như đuổi tà. Thất vọng, mòn mỏi chàng quay về bến sông
nằm dài không thiết ăn uống, thân hình ngày thêm tiều tụy đáng thương. Hình ảnh
của Mị Nương luôn lởn vởn trong đầu óc của chàng. Chàng đã yêu Mị Nương từ bao
giờ.Từ khi kết bằng hữu với Mị Nương chàng luôn ao ước phải chi Mị Nương là gái
thì hạnh phúc biết bao, nhưng chàng quên rằng với gương mặt xấu xí, thân phận
thấp hèn của mình chỉ làm cho sự việc thêm tệ hại mà thôi. Chàng nghĩ đến cái
chết. Phải rồi, chỉ có cái chết mới giải quyết hết mọi việc. Rời xa thế giới đầy
ô trọc nầy là một giải thoát cho cả mình và Mị Nương.
Một buổi sáng lão ngư Lê Thái như thường
lệ đi chài lưới ngang qua chiếc đò của Trương Chi lấy làm lạ. Đã hai hôm nay rồi con đò vẫn nằm im một chỗ không dời
đi đâu.Thường lão đi ngang qua đã thấy Trương Chi thức từ lúc nào, pha ấm trà mới
mời lão uống một chén cho ấm bụng rồi mới đi chài. Lão cất gọi nhưng không ai
trả lời, lão khom người cúi xuống vén tấm sáo mỏng bước vào con đò. Trương Chi
nằm đó người lạnh tanh đã chết từ lúc nào, hai tay để lên ngực phía dưới có kẹp
một mảnh giấy. Lão đở nhẹ một cánh tay của Trương Chi lên, cầm mảnh giấy đọc.
Đó là bài thơ tuyệt mạng của chàng:
Bụi
trần chi vướng bận lòng nhau
Một tấm chân tình biết gởi đâu?
Tiếng sáo giao duyên tràn nỗi nhớ
Câu thơ ly biệt cạn thương sầu
Nửa vầng nhật nguyệt ngàn năm hận
Một khối u tình vạn kiếp đau
Tro bụi xin người hòa sóng nước
Ân tình chưa trọn hẹn mai sau.
Lão ngư Lê Thái thở dài. Lão thực hiện
theo nguyện vọng sau cùng của Trương Chi, đem thi hài của chàng đi hỏa táng rồi
đem tro cốt rải trên dòng sông mà hằng ngày con đò chàng ngược xuôi đưa đò và đánh
cá. Khi lấy tro cốt của Trương Chi đi rải sông lão ngư phát hiện trái tim của
chàng không tan thành tro bụi mà lại kết thành một khối đá cứng. Đem xuống sông rửa trôi đi những vết dơ bẩn bên ngoài,
viên đá lấp lánh màu đỏ huyết như viên ngọc. Lấy làm lạ lão bỏ viên đá ấy và bài
thơ tuyệt mệnh vào một cái hộp rồi cất đi.
Riêng Mị Nương sau cơn hoảng loạn đó nàng
nằm mê sảng cả tháng trời. Quan thượng thư ngày đêm mời thầy thuốc chữa trị bệnh
tình mới thuyên giảm. Họ nói tiểu thư bị tâm bệnh cần phải có thời gian lâu dài
mới hết được. Mỗi lần nhìn bức chân dung mà Trương Chi vẽ tặng mình mà Mị Nương
ứa nước mắt, nàng nhớ tiếng sáo của Trương Chi. nhớ những lúc cùng chàng ngâm vịnh
trên sông nước, nàng hiểu ra rằng nàng không thể sống thiếu chàng, chẳng qua là
khi thấy bộ mặt gớm giếc một cách bất ngờ, đột ngột làm cho tâm trạng nàng hoảng
hốt, đau khổ mà thôi. Mị Nương nhờ nàng hầu nữ Nghi Xuân đi dò la tin tức của
Trương Chi thì gặp lão ngư Lê Thái. Lão đã kể hết sự tình, đưa chiếc hộp đựng bài
thơ tuyệt mạng và viên tim đá cho Nghi Xuân đưa về cho tiểu thư của cô vì chính
Mị Nương mới là chủ nhân của chiếc hộp nầy chứ không phải lão, lão giữ cũng không
có ích lợi gì cả.
Đọc bài thơ tuyệt mệnh và viên tim đá
trong tay Mị Nương càng đau buồn hơn, lòng bồi hồi khôn tả. Nàng tự trách mình
trong giây phút nông nổi đã làm mất đi mối chân tình cùng Trương Chi, thế gian
nầy còn tìm đâu ra tiếng sáo tài hoa nhưng bạc mệnh ấy nữa.Thấy con có vẻ quý
viên ngọc đá, quan thượng thư cho người nhờ thợ kim hoàn chạm khắc thành một chén
ngọc vô cùng tinh xảo để tặng cho con. Ngày nọ Mị Nương rót trà vào chén ngọc,
bỗng nhiên dưới đáy chén hiện lên hình ảnh con đò, văng vẳng tiếng sáo vi vu như
kể lể nỗi nhớ nhung thương tiếc. Hình ảnh cũ lại ùa về, nàng bật khóc, những giọt
nước hối tiếc chân tình rơi vào chén ngọc.Trong lòng chén như có một làn khói xanh
mỏng xuất hiện càng lúc càng lớn dần.Cuối cùng cả chén ngọc hóa thành làn khói
xanh tan vào khoảng hư không mất dạng.
Mị Nương lâm trọng bệnh, ngày càng thêm
nặng.Trong cơn mê sảng nàng nghe như có tiếng sáo của Trương Chi rót vào tai, kể
cho nàng nghe bao nỗi nhớ nhung vì xa cách. Đêm
Mị Nương mất, người ta kể lại rằng có đôi hạc trắng bay từ dinh quan thượng thư
về phía bến sông nơi ngày trước hai người thường thổi sáo, ngâm vịnh thơ
phú đảo ba vòng, kêu vang lên ba tiếng rồi bay về hướng tây mất hút. Bức chân
dung treo trên tường cũng mờ dần nét vẽ rồi mất hẳn như chưa từng được ai đó đặt
bút vẽ lên bao giờ.
Tháng 6/2013
NAB
* Tạm dịch: Đề chỗ đã thấy năm trước
Cửa nầy, năm
ngoái, hôm nay
Hoa đào phản chiếu mặt ai
ửng hồng
Mặt
người giờ ở nơi nao?
Hoa đào vẫn đó, cười chào
gió đông (Thôi Hộ)
Trần Trọng San dịch










