Thứ Hai, 8 tháng 11, 2021

KHÔNG AI ĐỨNG NGOÀI CUỘC CHIẾN

THƠ VÀ THƠ PHỔ NHẠC TRÊN TẠP CHÍ VĂN NGHỆ CẦN THƠ SỐ 116(THÁNG 9-10/2021)
- KHÔNG AI ĐỨNG NGOÀI CUỘC CHIẾN
- CHÀO NĂM HỌC MỚI




CA KHÚC PHỔ THƠ MỚI THÁNG MẤY NGƯỜI VỀ

CA KHÚC PHỔ THƠ MỚI
THÁNG MẤY NGƯỜI VỀ
Thơ NGUYỄN AN BÌNH(từ bài thơ tên VÀ THÁNG MẤY đăng trên báo BÌNH ĐỊNH), phổ thành ca khúc nhạc sĩ PHẠM MINH THUẬN. Xin cám ơn người nhạc sĩ Bình Dương rất nhiều.




VÕ CHÂN CỬU-HỒN THƠ TRÔI THEO "NGỌN GIÓ" ĐÃ BIỀN BIỆT PHƯƠNG NÀO

 BÀI CẢM NHẬN CỦA LƯƠNG THIẾU VĂN VỀ TẬP THƠ "NGỌN GIÓ" CỦA NHÀ THƠ VÕ CHÂN CỬU TRÊN TẠP CHÍ NGÔN NGỮ 16-HOA KỲ THÁNG 11-12/2021

VÕ CHÂN CỬU-HỒN THƠ TRÔI THEO "NGỌN GIÓ" ĐÃ BIỀN BIỆT PHƯƠNG NÀO






CẢM NHẬN TÁC PHẨM:

 

VÕ CHÂN CỬU – HỒN THƠ TRÔI THEO “NGỌN GIÓ” ĐÃ BIỀN BIỆT  PHƯƠNG NÀO

                                                         *LƯƠNG THIẾU VĂN


 

Nhà thơ Võ Chân Cửu tên thật là Văn Hưng, sinh năm 1952 tại Phù Cát, tỉnh Bình Định. Từ những năm cuối theo học bậc phổ thông trung học, Võ Chân Cửu đã có thơ đăng trên các báo, tạp chí văn học ở miền Nam. Năm 1972, khi mới tròn 20 tuổi, Võ Chân Cửu đã trình làng thi phẩm "Tinh Sương". Và chỉ một năm sau, anh xuất bản tiếp tập thơ "Đại Mộng".
Sau năm 1975, Võ Chân Cửu làm báo, viết sách và tiếp tục làm thơ.Các
bút danh anh thường sử dụng: Võ Chân Cửu, Tuy Viễn, Hưng Văn. Ngoài hai tập thơ “Ngã Tư Vầng Trăng” và “Trước Sau”, nhà thơ Võ Chân Cửu còn phát hành ba cuốn chân dung - tiểu luận là “22 Tản ạn”, “Theo Dấu Nhà Thơ” và “Vén Mây”. Anh mất ngày 23/12/2020 tại Bảo Lộc Lâm Đồng.    

  Tôi biết nhà thơ Võ Chân Cửu từ rất lâu, khi anh còn học ỏ Đại học Vạn Hạnh và có thơ xuất hiện rải rác nhưng khá đều đặn trên các tập san, tạp chí thời danh miền Nam trước 1975 nhưng chưa lần nào duyên gặp được anh, mãi những năm gần đây khi về hưu định cư cùng gia đình ở Sài Gòn tôi mới có dịp gặp gỡ và làm quen với nhà thơ Võ Chân Cửu, điều đặc biệt tôi quí anh ở chỗ lần đầu tiên khi mới gặp mặt anh bắt tay vui vẻ thân tình và hỏi han như đã quen từ lúc nào, cái phong thái đó tôi thường gặp ở những anh em văn nghệ trước năm 1975, sau nầy cũng có nhưng phai nhạt đi ít nhiều, đôi lúc cà phê cà pháo cùng anh ở một quán nhỏ ven đường Trường Sa mỗi lần anh từ Bảo Lộc tạt ngang về Sài Gòn cùng các bạn văn thân quen như nhà văn Trần Bảo Định, Từ Hoài Tấn, họa sĩ Nguyễn Sông Ba giống như một “Ngọn Gió” từ đâu trôi về rồi lại tất tả bay ngược lên B’lao nơi anh dừng chân từ lúc nghỉ hưu. Đối với tôi nhà thơ Võ Chân Cửu là một người anh, người bạn thơ sống rất chân tình với bạn bè, cũng không ít lần anh rủ rê tôi lên Đại Lào Bảo Lộc chơi với anh vài ngày(lúc đó anh chưa chuyển nhà ra tp Bảo Lộc sinh sống) nhưng tôi nấn ná chưa đi được thì được tin anh qua đời vì bệnh. Anh bệnh viêm tắc phế quản mãn tính giai đoạn cuối chắc có lẽ lúc trước do hút thuốc lâu ngày ảnh hưởng nên.

Tập thơ Ngọn Gió” anh gởi tặng tôi khá lâu trong một dịp anh về Sài Gòn rong chơi cùng bạn bè. Tập thơ tập hợp 153 bài thơ, chủ yếu trích từ 3 tập thơ đã xuất bản: Tinh Sương(Thi Ca, Sài Gòn 1972), Đại Mộng(Nhị Khê, Sài Gòn 1973), Ngã Tư Vầng Trăng(NXB Trẻ 1990), Trường ca Quảy Đá Qua Đồng(1974) và các bài thơ viết từ 1972-2011 chưa in trong sách nào.

 Lúc sinh thời nói về thơ, Võ Chân Cửu nêu rõ quan điểm của mình:"... Dù bắt nguồn từ khuynh hướng hay trường phái nào, tác phẩm văn chương, nhất là thơ ca cũng phải từ cảm xúc con người. Khi cảm xúc bị tác động thì trong lòng phát ra lời với âm hưởng và tiết tấu. Đó được gọi là Thơ. Như vậy, Thơ dùng biểu lộ tình cảm và tư tưởng con người". Điều đó thật là dễ hiểu và trước sau con đường thơ của anh đã đi theo luồng cảm nghĩ như thế.

 

BÀNG BẠC TRONG NGỌN GIÓ LÀ TÌNH YÊU ĐỐI VỚI QUÊ NHÀ

              Đọc tập thơ “Ngọn Gió”, đều cảm nhận đầu tiên của tôi là tình cảm đối với quê nhà bàng bạc rất nhiều trong thơ anh. Nó như hạt sương sớm hay ngọn gió chiều thổi qua cánh đồng cô quạnh, một cảm giác mơ hồ mà anh gọi đó là cố hương: 

                 Nước chè hai trăng dẫn lên nguồn

                 Tôi không về nước chảy đi luôn

                 Đêm nghe nhịp máu gần gang tấc

                 Biết bao giờ trở lại cố hương

                                                   (Cố hương)

Theo tác giả Việt Hiền trong bài “Nhà thơ Võ Chân Cửu về với mây trời” làng cũ mà Võ Chân Cửu nói ở trên chính là thôn Tân Thanh, xã Cát Hải, nơi chôn nhau, cắt rốn của nhà thơ. Vùng đất này xuất hiện khá nhiều trong thơ Võ Chân Cửu, với những địa danh: Chợ Cách Thử, hòn Đá Tượng, mả ông Năm… Hãy xem bức tranh quê qua ký ức của Võ Chân Cửu:

“Cố hương đèo nối ba truông

Đón ma họp chợ bán buôn rộn ràng

Xưa theo chân mẹ về làng

Chỉ nghe gió thổi cát vàng mênh mông

Bây giờ xanh ngát hư không

Trưa nằm nhắc chuyện viễn vông nhớ nhà

Làng xưa vắng bóng người qua

Nồi trôi phố chợ lòng ta ngậm ngùi”

                                     (Phố Chợ)

Nhà văn Mang Viên Long có lẽ cùng đồng hương với nhau nên có những đồng cảm sâu sắc khi đọc “Ngọn Gió”: Quê nhà trong thơ Võ Chân Cửu đã được chuyển hóa qua bao cuộc thăng trầm, qua bao niềm nhớ thương hiu quạnh; nên đọc thơ anh chúng ta dễ đồng cảm, dễ có niềm cảm thông sâu sắc, bởi chính đó cũng là một chốn “quê nhà chung”:

 

 “Mặt trời đã khuất non tây

Nghìn con nhạn lại bơi đầy trong không

Theo luồng khói phủ xa trông

Chốn quê quán cũ mây lồng bóng mây”

                               (Chốn Cũ)

Chìm nổi giữa chốn “quê nhà” thê lương, hiu hắt – nhà thơ luôn cảm thấy một nỗi “cô quạnh” thường trực bên đời:

“Lạnh tanh nhà lộng gió

Cú kêu ngoài hàng tre

Sương tan mờ dấu cỏ

Người đêm nay không về”

                             (Cô Quạnh)

              Nổi bật nhất có lẽ là bài thơ Quê nhà của anh viết theo thể thơ năm chữ, là thể thơ anh sử dụng rất nhiều trong tập Ngọn Gió, gồm 36 đoạn với 148 câu thơ, quê nhà là hoa cỏ, sao mọc đầu hôm, canh gà, tiếng dế, màu trăng, suối reo, bến nước con đò, tà dương núi biếc, là miền Đại Hoang... là tất cả hình ảnh đời thường trong cuộc sống từ thuở bé thơ hay trong suy nghĩ viễn mơ chập chờn trong ký ức của anh:

Ta nghe lời em nói

Trong sao mọc đầu hôm

Và gió mây cũng gọi

Người về trên cô thôn...

 

Sớm mai trời đất nhẹ

Lòng ta như phiêu bồng

Nhìn non xa be bé

Mây trắng chảy cùng sông...

 

            Nên khi trở thành đám mây viễn xứ thì quê nhà trở thành khói sương, lãng đãng trong tháng ngày phiêu hốt đó đây hay đôi lúc trăn trở trong cuộc sống áo cơm còn nhiều gian khó:

Đêm nào chờ trăng lặn

Nghìn xưa sao bên hồ

Khi thấy trên trời vắng

Khói sương đã phủ mờ...

 

Ta nghe lòng giục giã

Trong khuya vắng canh gà

Mười năm theo mây nổi

Ta đánh mất quê nhà...

 

Cô độc dặm tà dương

In dày qua núi biếc

Mây trắng miền cố hương

Bay dưới chân người bước...

               Khi đọc Quê Nhà, nhà văn Võ Phiến đã có suy nghĩ sâu sắc và tinh tế: “Này xem: Xa làng lâu ngày, một hôm trở về ông thấy núi thấy mây ở quê mình:

“Bỗng nhiên lạnh cả hồn tôi

Khi trông thấy dáng núi ngồi co ro

Mười năm làng cũ không về

Đăm đăm mây trắng lê thê mái đầu.”

                      (Đăm đăm mây trắng)

              Trên đất nước nầy, bạn có từng bắt gặp cái núi ở nơi nào nó ngồi như vậy không? Bạn ngờ rằng thứ núi co ro đáng hãi nọ ngẫu nhiên là đặc cảnh địa phương chăng? Không phải vậy đâu. Không cần nhìn cảnh làng mình Võ Chân Cửu mới thấy ra vậy; ngay lúc đi giữa thành phố Sài Gòn ông cũng thấy những cái khó có người thấy:

“Ngã ba ngã bảy xe đi khuất

Cơ khí xen cùng nhịp gió mưa

Tiếng ma thiên cổ vong u uất

Vắng lặng buồn xo suốt bốn mùa.”

                               (Sài Gòn)

(Văn học Miền Nam tập IV-Thơ, nxb Văn Học, California 1998)”

Ngoài bài thơ Quê Nhà, trong tập Ngọn Gió làm ta chú ý đến là bài “Chùa Cổ Bên Sông” cũng viết theo thể thơ ngũ ngôn, bài nầy lần đầu tiên được in trên tuần báo Khởi Hành năm 1969 lúc tác giả mới 17 tuổi, thoạt đầu người đọc có thể lầm tưởng tác giả đang ở lứa tuổi trung niên vì thi pháp già dặn của nó. Nhà thơ Nguyễn Lương Vị lúc còn sống đã có những suy nghĩ khá thú vị về bài thơ:

Theo tôi, đây là bài thơ xuất thần nhất trong Tinh Sương. Thi sỹ viết như nhập đồng, thơ chảy trôi một mạch như khúc đồng dao, nhịp theo tiếng mõ thánh thót như những giọt sương trời, vang vang, lắng lắng. Chùa cổ, sông, là biểu tượng đầy ẩn dụ: Động và tĩnh, xa và gần, mộng và thực, dìu dặt âm vang, quyện vào nhau trong tiết điệu lung linh, chập chùng, trùng điệp. Bài thơ có thể tụng (gọi một cách phiêu bồng là “thi tụng”) với nhịp ngân nga trầm bổng, hay có thể hát lên một mình trong đêm thanh vắng. Tụng hay hát, nhả giọng khoan thai từng chữ, câu chuyện kể sẽ ánh lên một âm vang và sắc màu vừa thực vừa mộng. Tụng hay hát, sẽ bật lên tiếng ca xang bi mẫn giữa bóng đời dâu bể trầm luân. Em là ai? Là duyên nghiệp trùng trùng, là vết thương tâm “bạc áo nâu sồng/ kiệt trên đời cũ” của kiếp người ảo hóa mong manh. Bài thơ thấm đẫm mùi Đạo mà ngan ngát hương Đời, nên không có chỗ dừng. Càng tụng, càng hát, càng lung linh âm vang và sắc màu, “Sông nước chập chùng/ Nước xô thiên địa/ Chùa cổ bên sông…”

...Tinh Sương, đúng như tên gọi, một giòng thơ lung linh, trong veo trong vắt, nhất khí từ bài đầu đến bài cuối. Âm vang, có một chút gì đó hiu hắt, lành lạnh, trầm trầm. Sắc màu, có một chút gì đó vừa ảo diệu, vừa mênh mông. Chữ trong mạch thơ, hình như thi sỹ cố ghìm lại những tiếng nấc thảng thốt của buổi đầu đời, khi bắt đầu cảm nhận được cái cô liêu, côi cút, bơ vơ của kiếp người.

Từ khi rời quê nhà và trên bước đường viễn xứ của mình, mỗi một vùng đất anh đi qua, mỗi một con đường anh bước, mỗi một cảnh vật anh nhìn, trong mắt anh những vần thơ lại rung lên theo bước chân lang bạt của anh, lúc mộc mạc chân tình, lúc tha thiết lắng đọng, lúc suy tưởng mơ hồ nhưng tựu trung đều là những tình cảm rất thực, rất hồn nhiên:

...Muốn ngồi lại bên cầu gom ít nắng

Sưởi lên từng đá tảng bậc thềm rêu

Con nước chảy lòng tôi đành lỗi hẹn

Mây phiêu du xin gởi lại trong chiều...

               (Những buổi chiều Sông Bé)

 

...Em là ai – tôi không biết từ đâu

Một thoáng hiện rồi đi, tan biến mãi

Cho trĩu nặng lòng tôi khi nhớ lại

Đêm Cà Mau đêm Cà Mau đêm rất lâu.

              (Đêm Cà Mau-1988)

 

Anh cũng không thể ngờ rằng bài thơ B’lao anh viết năm 1986 trong một lần thoáng qua lại là nơi gắn bó cuộc đời mình ở những ngày cuối đời, âu cũng là định mệnh:

Tôi về hỏi lại rưừng cao

Bóng mây năm cũ hôm nào còn bay

Chiều lên nắng tắt theo ngày

Ánh trăng nhưư thể nghìn tay ai cầm...

 

...Tôi về hỏi lại rưừng cao

Đừng quên em nhé nghìn sao tiếng thầm!

 

Trong bài viết “Tản Mạn Cùng Võ Chân Cửu” khi đánh giá về thơ anh, nhà giáo Huỳnh Như Phương có nhận xét: “Nói về thế hệ cùng thời với Võ Chân Cửu, cách phân loại vừa quen thuộc vừa dễ dãi được một số người chấp nhận lâu nay: khuynh hướng “dấn thân” và khuynh hướng “viễn mơ”. Nhưng ranh giới giữa hai khuynh hướng đó đâu dễ phân định. Chỉ cần đặt câu hỏi: dấn thân về đâu mới là dấn thân đích thực? Và người ta có thể dấn thân mà không cần viễn mơ? Thậm chí, người dấn thân có thể cũng là người mơ tưởng hão huyền nhất!

Dù sao, trong văn cảnh miền Nam thời đó, Võ Chân Cửu dễ được xếp vào nhà thơ “viễn mơ”, căn cứ vào thi hứng, thi tứ và cả nhan đề tác phẩm của ông: Tinh sươngĐại mộng, Tà huy, Bóng trăng ngàn, Đường vô núi, Sáng thinh không, Ngã tư vầng trăng, Quẩy đá qua đồng, Chùa cổ bên sông… Con đường “viễn mơ” đó bao đời nay đã là một dòng lớn của thi ca Việt Nam.

(Tản mạn với Võ Chân Cửu-Huỳnh Như Phương)

Đúng như nhà thơ Trịnh Bửu Hoài viết về anh: “Qua bộ tản văn nầy tôi mới biết Võ Chân Cửu đi nhiều, gặp gỡ và sống cùng nhiều anh em văn nghệ thời bấy giờ, nhất là các tỉnh miền Trung quê anh. Vào Sài Gòn học, anh có điều kiện tiếp cận giới văn nghệ nhiều hơn. Điều đáng khâm phục ở anh không chỉ là máu giang hồ mà anh còn có một trí nhớ rất tốt. Đến với bạn bè, anh có một tấm lòng, một chân tình mới có được những kỉ niệm đẹp như thế.

Đối với tôi, được đọc thơ Võ Chân Củu từ những ngày đầu khi anh mới bắt đầu xuất hiện trên văn đàn cho đến mãi sau nầy giọng điệu, hồn thơ vẫn giữ được một bản sắc cho riêng mình không thay đổi dù trải qua muôn vàn biến động của thời gian và không gian, có điều càng về sau càng trầm lắng và chiêm nghiệm, mạch nguồn thơ vẫn trong trẻo, hồn nhiên mang hơi thở, sức sống tiềm tàng. Thơ anh không mang vẻ huyền bí, cách tân hay dị biệt mà chỉ là tiếng lòng của một nhà thơ chân chất hồn hậu trước cuộc sống muôn màu muôn vẻ.


 CHIA TAY  NGƯỜI ANH, NGƯỜI BẠN THƠ VÕ CHÂN CỬU

Chiều tối ngày 23/12/2020 qua thông tin trên fb của gia đình và một số bạn bè thân cận, tôi biết được nhà thơ Võ Chân Cửu đã ra đi lúc 18g30 tại Bảo Lộc trong vòng tay ấm áp của gia đình. Sau đó linh cửu được chuyển về Pháp viện Minh Đăng Quang số 505 Xa lộ Hà Nội, Q2 Tp HCM và hỏa táng ngày chủ nhật 27/12/2020.

Nay anh đã rời xa cõi tạm, xa những người thân yêu quí, xa bạn bè văn nghệ, anh ra đi thật nhẹ nhàng như ngọn gió sớm mai, phiêu bồng và thanh thản như ở bài thơ “Quê Nhà” trong thi phẩm đầu tay “Tinh Sương” của anh viết khi mới 20 tuổi:

...Bước chân về muôn dặm

Đường trưa mờ bóng ma

Đôi mắt chưừng u ám

Tiếng ngàn khi bay qua...

 

...Mây bay từ thiên cổ

Cùng nhau trời đất tan

Ta một linh hồn nhỏ

Vơ vẩn miền Đại Hoang.

Từ nay giọt lệ “Tinh Sương” đã trôi qua vùng trời “Đại Mộng”, không còn ai hát khúc trường ca “Quảy Gánh Qua Đồng” để tìm tri kỷ ở “Ngã Tư Vầng Trăng”, nhìn lại“Trước Sau” không một bóng hình, biết ai còn nhớ người gọt bút viết “22 Tản Mạn” đi “Theo Dấu Nhà Thơ”. Thôi thì “Vén Mây” xin khép lại để hồn thơ theo “Ngọn Gió” lên trời, viễn du ở một thế giới khác nhẹ bước giang hồ anh Võ Chân Cửu nhé.

Bên bờ Kênh Tẻ, tháng 9-2021

LƯƠNG THIẾU VĂN

_________________________________________________

Tham khảo:

1- Tập san Quán Văn 46 Vào Hạ, Chân dung văn học nhà thơ Võ Chân Cửu

2- Võ Chân Cửu: Trước sau đều của riêng mình của Nguyễn Lương Vị

3- “Quê Nhà” trong thơ Võ Chân Cửu của Mang Viên Long

4- Thương nhớ nhà thơ Võ Chân Cửu của Trần Trung Sáng

5- Một thời không quên của Trịnh Bửu Hoài


Chủ Nhật, 7 tháng 11, 2021

CHÉN NGỌC TRƯƠNG CHI

TRUYÊN NGẮN CỦA NGUYỄN AN BÌNH TRÊN TẬP SAN RA KHƠI 7 THÁNG 9-2021
CHÉN NGỌC TRƯƠNG CHI 



   

 

TRUYỆN NGẮN

 

                           CHÉN NGỌC TRƯƠNG CHI

                                                                       *Nguyễn An Bình

Nợ tình chưa trả cho ai

Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan.

(Truyện Kiều-Nguyễn Du)

 

      Vào những ngày mùng một và ngày rằm mỗi tháng, bao giờ trường học của quan tư đồ Vương Doãn cũng tấp nập môn sinh, vì đây là những ngày bình văn thường kỳ.Tháng thì bình thơ, khi thì văn, phú, tế, biểu, đối…. Tất cả các loại văn cần thiết trong thi cử điều được quan tư đồ ra đề để các môn sinh rèn tập và chuẩn bị từ trước đến đợt bình văn đem ra thi thố và luận bàn. Quan tư đồ Vương Doãn từng giữ chức vụ cao trong triều và từng là thầy dạy của đương kim hoàng thượng bây giờ. Nên khi ông cáo lão từ quan về mở trường dạy học thì từ các bậc công hầu khanh tướng trong triều cho đến các gia đình giàu có ở kinh đô đều mong muốn gởi gấm con cháu của mình đến học cùng ông để có thể nên danh nên phận sau nầy. Ông dạy rất nghiêm minh và cẩn trọng không hề thiên vị một môn sinh nào dù đó là con của quan to chức trọng hay con của hoàng thân quốc thích đi chăng nữa, nhiều học trò ông đổ đạt cao và có danh phận trong triều. Trước ngày bình văn ông đều yêu cầu các môn sinh nộp quyển để ông chấm qua đó ông chọn chừng năm quyển được ông phê ưu đem ra bình và chính tác giả của những quyền đó phải đọc cho các bạn đồng môn nghe và lắng nghe lời những nhận định cũng như giải đáp những vướng mắc của các môn sinh khác.

     Lần nào cũng thế, trong năm quyển được chọn bao giờ cũng có quyển của con trai quan ngự sử Trương Học Phi. Không phải quan tư đồ vị nể người môn sinh ấy là con quan ngự sử, bạn thân của ông mà là tài học của chàng trai mười sáu tuổi ấy thật nổi trội, văn chương lưu loát, lập luận sắc sảo mà lời bình văn thì thật hấp dẫn, lôi cuốn.Trương Chi đối đáp rất linh hoạt, đầy sức thuyết phục. Nhiều bạn đồng môn ganh với tài học của chàng tìm mọi sơ hở trong bài văn để đặt câu hỏi nhằm bắt bí, hạ thấp chàng đều thất bại. Quan tư đồ đặt nhiều kỳ vọng vào người học trò yêu quí của mình trong kỳ thi năm nay sẽ chiếm bảng vàng đem lại vẻ vang cho ông và gia đình quan ngự sử. Nhưng một tai họa khốc liệt xảy ra đã làm đảo lộn những dự tính tốt đẹp đó, một trận hỏa hoạn cực lớn đã thiêu rụi cả ngôi nhà của quan ngự sử, già trẻ lớn bé không một ai sống sót chỉ trừ Trương Chi. Dân chúng quanh vùng không hiểu vì sao ngọn lửa lại lan nhanh đến thế, có người cho rằng trời cao không có mắt nên tai họa đổ xuống gia đình một viên quan thanh liêm, chính trực, có người hiểu chuyện, chép miệng than: Đời nào cũng thế, bọn tham quan ô lại đầy rẫy, chống lại nó, nó mà không chết thì mình phải chết thôi. Vì cách đây không lâu quan ngự sử đã dâng sớ lên vua xin trị tội bảy kẻ nịnh thần, tham quan  nhất là sau vụ vỡ đê ở sông Nhĩ Hà, bọn chúng đã ăn xén vật tư, kê khống ngày công nhân lực để bỏ túi riêng, chia nhau làm giàu gây nên hậu quả nghiêm trọng khôn lường chẳng những bòn rút ngân khố ngày càng khánh kiệt mà còn làm khổ lê dân bá tánh trăm đường lầm than.

       Việc điều tra nghi án vụ phóng hỏa giết người nhà quan ngự sử không đi đến đâu vì triều đình không tìm được chứng cứ hay kẻ gian hùng đã xóa sạch mọi dấu vết, thế lực quá mạnh chăng thì không ai biết, cuối cùng theo thời gian cũng trôi vào quên lãng. Chỉ tội cho Trương Chi, mặc dù thoát chết trong cơn hỏa hoạn khủng khiếp đó, nhưng khuôn mặt thanh tú của chàng hầu như bị hủy hoại hoàn toàn, cũng may đôi mắt và thanh âm không bị hư tổn. Trương Chi được người chú ruột đem về nhà chăm sóc, nuôi dưỡng gần một bến sông. Ông nầy làm nghề chèo đò, đánh cá trên sông để sinh sống qua ngày. Sau mấy tháng chữa trị thì Trương Chi cũng bình phục nhưng gương mặt không còn lành lặn như xưa, nó biến dạng đến nổi chàng không còn muốn nhìn vào gương nữa. Để khỏi làm người khác hoảng sợ vì gương mặt dị dạng của mình Trương Chi luôn đội chiếc nón rộng vành kéo sụp xuống, phía trước mặt được che thêm một miếng vải mỏng sậm màu che khuất đi phần da mặt bị kéo nhúm lại vì bỏng. Rồi người chú cũng qua đời, Trương Chi trở thành người lái đò, đánh cá độ nhật trên sông từ đấy.

     Làm bạn với chàng từ nay là con đò, hằng ngày lênh đênh trên sông nước để mưu sinh, nỗi cô đơn buồn tủi với thân phận đắng cay nghiệt ngã Trương Chi chỉ còn biết gởi gấm qua tiếng sáo, giọng hát của mình. May mắn ngọn lửa đã không lấy mất những gì còn lại của chàng.Tiếng sáo vẫn du dương, đằm thắm, giọng hát vẫn mượt mà trôi chảy, có khác chăng là giờ đây nó chất chứa nỗi buồn nhiều hơn vui và cũng từ đây trên bến sông nầy người ta quen dần với một anh ngư phủ có tiếng sáo và giọng hát tài hoa làm say đắm lòng người. Từ nay chuyện thi cử, danh hoa phú quí không còn vướng bận lòng chàng, nó chỉ còn là những bọt sóng cuối bãi đầu ghềnh chiều hôm mà thôi.

     Trên bến sông nầy có một dinh thự của viên quan thượng thư bộ hình Trần Công. Ông cho xây dinh thự nầy để làm vui lòng người con gái mà ông hết lòng yêu quí: tiểu thư Trần Mị Nương. Mị Nương tuổi vừa đôi tám, nhan sắc xinh đẹp tuyệt vời, tính nết lại thùy mị đoan trang nên nhiều gia đình quyền thế trong kinh thành cho người đến dạm hỏi, mai mối nhưng nàng chưa nhận lời ai cả, quan thượng thư vì yêu con nên cũng không nài ép làm gì. Không giống như những gia đình vọng tộc khác, nàng Mị Nương xinh đẹp ngoài việc thêu thùa khéo léo, nàng còn được phụ thân mướn thầy về dạy học cho nàng nên cầm kì thi họa môn nào nàng cũng am tường cả. Cảnh tấp nập chốn kinh thành làm nàng mệt mỏi không vui nên quan thượng thư cất riêng cho nàng dinh thự gần bến sông nầy, sống gần gũi với thiên nhiên, cây cỏ phù hợp với tâm tánh giản dị của nàng. Một đêm trăng thanh gió mát, Mị Nương trằn trọc không ngủ được, nàng bước ra hiên ngoài vọng lâu để ngắm trăng cho khuây khỏa thì từ xa phía bến sông tiếng sáo cất lên lúc khoan lúc nhặt, chơi vơi, chất chứa nỗi buồn nhân thế đã làm rung động tâm hồn của nàng tiểu thư con nhà đài các.Trái tim chưa hề biết rung động của Mị Nương với nhạc khúc tình yêu đã bắt đầu xao xuyến. Trên bến sông vắng Trương Chi vẫn thả hồn theo tiếng sáo u hoài.Tai họa đã cướp đi của chàng tất cả nhưng đã bù đắp cho chàng tiếng sáo tài hoa đa cảm.Tiếng sáo cất lên nói thay lòng chàng, như an ủi cuộc đời đầy nghiệt ngã mà chàng phải hứng chịu. Trương Chi đâu biết rằng nơi lầu son gác tía ở bên sông kia đang có một cô tiểu thư xinh đẹp đang say đắm thả hồn theo tiếng sáo của chàng.

       Mị Nương nhờ nàng hầu nữ Nghi Xuân dò hỏi xem ai là người thường thổi sáo trên bến sông ấy thì được biết đó là một chàng trai sống nghề hạ bạc tên Trương Chi. Rung động trước tiếng sáo tài hoa ấy nàng muốn tìm gặp mặt nhưng nàng hầu nữ Nghi Xuân cố sức can ngăn vì quan thượng thư biết được sẽ rất nguy hiểm và ngăn cấm. Thấy chủ có vẻ không vui buồn bã nên Nghi Xuân bèn bày kế cho Mị Nương nói dối quan thượng thư đi vãn cảnh rồi giả dạng nam nhân xuống bến sông mướn đò đi du ngoạn để có dịp được nghe lại tiếng sáo tài hoa đó. Ngồi trên đò xuôi theo dòng nước một lúc lâu chàng công tử họ Trần kia không biết phải bắt chuyện từ đâu. Mùa nầy bông lau nở trắng cả triền sông, xa xa vài chiếc thuyền đánh cá tung chài trên sông nước và màn sương còn lãng đãng trên đầu cây ngọn cỏ, phong cảnh thật hữu tình. Công tử họ Trần cao hứng cất tiếng ngâm:

               Khứ niên kim nhật thử môn trung

               Nhân diện đào hoa tương ánh hồng

       Hai câu thơ trong bài Đề tích sở kiến xứ của Thôi Hộ đời Đường. Ở câu thơ thứ hai chàng công tử họ Trần cố ý ngân dài ra chậm lại rồi dừng hẳn. Không gian như chìm vào cõi không tịch mịch thì bỗng phía sau mũi đò cất lên một tiếng ngâm đầy thanh tú:

              Nhân diện bất tri hà xứ khứ

              Đào hoa y cựu tiếu đông phong.*

       Cả hai thầy trò công tử họ Trần cùng quay mặt lại mũi đò, cậu tiểu đồng Nghi Xuân cười lém lỉnh nhìn về cô chủ như thầm khen tiểu thư nhà mình thông minh thật. Chàng công tử họ Trần lộ vẻ hân hoan, hai tay cung kính trước mặt, hỏi người lái đò:

        -Thì ra huynh cũng là người am hiểu thơ phú. Thành thật xin lỗi huynh, đệ đã dám múa rìu qua mắt thợ rồi.

       Người lái đò lật đật buông mái chèo, hai tay cung kính đáp lễ:

-   Xin công tử thứ lỗi tôi đã làm mất nhã hứng ngâm thơ của công tử, thấy công tử dừng lâu quá bất giác tôi đọc tiếp hai câu sau cho tròn nghĩa mà thôi.

-   Huynh là người có học ,sao không cố chí học hành để mai sau vinh hiển lại làm nghề hạ bạc nầy?

-   Xưa thân phụ còn sống có được cho học đôi ba chữ thánh hiền. Nay thân phụ mất nhà nghèo làm nghề sông nước sống cho qua ngày, không dám mơ cao.

Công tử họ Trần đề nghị:

-   Nếu được phép đệ có thể kết bằng hữu với huynh được chăng?

Chàng lái đò vội vã từ chối:

-   Tôi không xứng đáng làm bằng hữu với công tử đâu, thân phận tôi nghèo hèn, công tử thứ lỗi cho.

      Nhưng trước tấm chân tình của chàng công tử họ Trần, Trương Chi không tiện từ chối. Cuộc gặp gỡ lần đầu của họ là như thế, tuy chưa thật sự gần gũi, thân mật nhưng hình như đã có mối dây ràng buộc họ như một định mệnh đã an bày.Hai người hẹn nhau mỗi tháng sẽ gặp mặt nhau một lần. Chàng Trương thì thổi sáo, còn công tử họ Trần thì ngâm thơ. Đôi lúc họ ra đề cho nhau cùng đối họa thơ phú, trăm phần tương đắc. Từ ngày được kết bạn với Trần Công Tử, tiếng sáo của Trương Chi không còn u oán, buồn bã nữa, tiếng sáo lại cất lên âm điệu réo rắt, yêu đời như thuở chàng còn là môn sinh của quan tư đồ Vương Doãn.Trương Chi đã vẽ tặng cho Trần công tử một bức chân dung với gương mặt thật xinh đẹp giống như một nàng thiếu nữ diễm tuyệt, tay đang xòe quạt, trên thân quạt có đề bài thơ của Thôi Hộ  như là kỷ niệm nhờ bài thơ mà hai người kết bằng hữu với nhau. Nhìn bức tranh khi vẽ xong Trương Chi chợt ao ước phải chi Trần công tử là gái nhỉ? Chỉ suy nghĩ đến đây thôi là chàng đã vội xua đi cái tư tưởng điên rồ ấy ra khỏi đầu óc của mình. Riêng Trần công tử có vẻ thích bức tranh mỹ nam nhân của mình lắm, đem về treo trong phòng ngắm nghía rồi tự hỏi: Nếu Trương Chi biết mình là gái thì sao nhỉ? Chỉ nghĩ đến đó thôi Mị Nương đã ửng hồng đôi má không dám nghĩ tiếp nữa. Nhiều lần gặp gỡ, ngâm vịnh trên đò Trần công tử dợm hỏi xin được xem rõ mặt người bằng hữu của mình nhưng Trương Chi lại khéo léo từ chối, lấy lí do mình bị dị dạng từ nhỏ nên không sợ làm hoảng hốt người khác.Thấy chàng Trương từ chối quyết liệt nên Mị Nương thôi không đề cập đến nữa nhưng cứ thắc mắc mãi. Những lần không có dịp gặp gỡ Mị Nương lại lên vọng lâu nhìn về bến sông lắng nghe tiếng sáo của Trương Chi theo gió đưa về mà miên man nghĩ về mối tình chớm nở lớn dần theo năm tháng của mình đối với chàng Trương mà mỉm cười hạnh phúc.

       Một hôm trong lần gặp mặt, đò đang xuôi theo dòng thì cơn dông bắt đầu ập đến, Trương Chi vội quay mũi để tấp đò vào bờ, gió mạnh đã hất tung chiếc nón rộng vành mà chàng đang đội. Hoảng hốt chàng vội với theo nắm giữ, nhưng không kịp nữa rồi, chiếc nón đã rơi xuống sông, cùng lúc ấy là một tiếng kêu á đầy sửng sốt kinh hoàng của Trần công tử. Vô cùng lo sợ,Trương Chi luống cuống lấy tay che mặt quay lại nhìn. Trần công tử đã ngã nhoài xuống sạp gần như bất tỉnh, chiếc mũ đội đầu văng mất hồi nào không biết, lộ ra mái tóc dài xỏa xuống bờ vai.Trương Chi há hốc miệng, kinh ngạc:

         -  Trần công tử là…là…

Tên tiểu đồng Nghi Xuân trong cơn hoảng loạn hét lớn:

         - Trần công tử, Trần công tử cái gì? Đó là Trần tiểu thư con quan thượng thư đó. Người chèo đò tấp vào bờ mau, kêu phu kiệu đưa tiểu thư về dinh để chữa trị không nguy mất.

Thì ra khi cơn gió làm tốc chiếc nón rộng vành hằng ngày che khuất gương mặt xấu xí của Trương Chi, Mị Nương đã kịp nhận ra một gương mặt dị dạng, gớm giếc mà chàng cố gắng che giấu, sợ làm tổn thương đến người khác, nàng hoảng hốt ngất đi vì sợ hãi. Chuyện không thể giấu được nữa rồi, cái ngày mà Trương Chi lo sợ đã đến nhưng chàng không ngờ là nó đến nhanh như vậy.

Suốt mấy ngày hôm sau Trương Chi lảng vảng nơi cửa dinh quan thượng thư để dò la tin tức nhưng không được gì, cũng không thấy con hầu nữ Nghi Xuân xuất hiện. Sốt ruột chàng lân la dò hỏi quân canh thì bọn chúng xua đuổi chàng như đuổi tà. Thất vọng, mòn mỏi chàng quay về bến sông nằm dài không thiết ăn uống, thân hình ngày thêm tiều tụy đáng thương. Hình ảnh của Mị Nương luôn lởn vởn trong đầu óc của chàng. Chàng đã yêu Mị Nương từ bao giờ.Từ khi kết bằng hữu với Mị Nương chàng luôn ao ước phải chi Mị Nương là gái thì hạnh phúc biết bao, nhưng chàng quên rằng với gương mặt xấu xí, thân phận thấp hèn của mình chỉ làm cho sự việc thêm tệ hại mà thôi. Chàng nghĩ đến cái chết. Phải rồi, chỉ có cái chết mới giải quyết hết mọi việc. Rời xa thế giới đầy ô trọc nầy là một giải thoát cho cả mình và Mị Nương.

Một buổi sáng lão ngư Lê Thái như thường lệ đi chài lưới ngang qua chiếc đò của Trương Chi lấy làm lạ. Đã hai hôm nay rồi con đò vẫn nằm im một chỗ không dời đi đâu.Thường lão đi ngang qua đã thấy Trương Chi thức từ lúc nào, pha ấm trà mới mời lão uống một chén cho ấm bụng rồi mới đi chài. Lão cất gọi nhưng không ai trả lời, lão khom người cúi xuống vén tấm sáo mỏng bước vào con đò. Trương Chi nằm đó người lạnh tanh đã chết từ lúc nào, hai tay để lên ngực phía dưới có kẹp một mảnh giấy. Lão đở nhẹ một cánh tay của Trương Chi lên, cầm mảnh giấy đọc. Đó là bài thơ tuyệt mạng của chàng:

           Bụi trần chi vướng bận lòng nhau

           Một tấm chân tình biết gởi đâu?

           Tiếng sáo giao duyên tràn nỗi nhớ

           Câu thơ ly biệt cạn thương sầu

           Nửa vầng nhật nguyệt ngàn năm hận

           Một khối u tình vạn kiếp đau

           Tro bụi xin người hòa sóng nước

           Ân tình chưa trọn hẹn mai sau.

Lão ngư Lê Thái thở dài. Lão thực hiện theo nguyện vọng sau cùng của Trương Chi, đem thi hài của chàng đi hỏa táng rồi đem tro cốt rải trên dòng sông mà hằng ngày con đò chàng ngược xuôi đưa đò và đánh cá. Khi lấy tro cốt của Trương Chi đi rải sông lão ngư phát hiện trái tim của chàng không tan thành tro bụi mà lại kết thành một khối đá cứng. Đem xuống sông rửa trôi đi những vết dơ bẩn bên ngoài, viên đá lấp lánh màu đỏ huyết như viên ngọc. Lấy làm lạ lão bỏ viên đá ấy và bài thơ tuyệt mệnh vào một cái hộp rồi cất đi.

Riêng Mị Nương sau cơn hoảng loạn đó nàng nằm mê sảng cả tháng trời. Quan thượng thư ngày đêm mời thầy thuốc chữa trị bệnh tình mới thuyên giảm. Họ nói tiểu thư bị tâm bệnh cần phải có thời gian lâu dài mới hết được. Mỗi lần nhìn bức chân dung mà Trương Chi vẽ tặng mình mà Mị Nương ứa nước mắt, nàng nhớ tiếng sáo của Trương Chi. nhớ những lúc cùng chàng ngâm vịnh trên sông nước, nàng hiểu ra rằng nàng không thể sống thiếu chàng, chẳng qua là khi thấy bộ mặt gớm giếc một cách bất ngờ, đột ngột làm cho tâm trạng nàng hoảng hốt, đau khổ mà thôi. Mị Nương nhờ nàng hầu nữ Nghi Xuân đi dò la tin tức của Trương Chi thì gặp lão ngư Lê Thái. Lão đã kể hết sự tình, đưa chiếc hộp đựng bài thơ tuyệt mạng và viên tim đá cho Nghi Xuân đưa về cho tiểu thư của cô vì chính Mị Nương mới là chủ nhân của chiếc hộp nầy chứ không phải lão, lão giữ cũng không có ích lợi gì cả.

Đọc bài thơ tuyệt mệnh và viên tim đá trong tay Mị Nương càng đau buồn hơn, lòng bồi hồi khôn tả. Nàng tự trách mình trong giây phút nông nổi đã làm mất đi mối chân tình cùng Trương Chi, thế gian nầy còn tìm đâu ra tiếng sáo tài hoa nhưng bạc mệnh ấy nữa.Thấy con có vẻ quý viên ngọc đá, quan thượng thư cho người nhờ thợ kim hoàn chạm khắc thành một chén ngọc vô cùng tinh xảo để tặng cho con. Ngày nọ Mị Nương rót trà vào chén ngọc, bỗng nhiên dưới đáy chén hiện lên hình ảnh con đò, văng vẳng tiếng sáo vi vu như kể lể nỗi nhớ nhung thương tiếc. Hình ảnh cũ lại ùa về, nàng bật khóc, những giọt nước hối tiếc chân tình rơi vào chén ngọc.Trong lòng chén như có một làn khói xanh mỏng xuất hiện càng lúc càng lớn dần.Cuối cùng cả chén ngọc hóa thành làn khói xanh tan vào khoảng hư không mất dạng.

Mị Nương lâm trọng bệnh, ngày càng thêm nặng.Trong cơn mê sảng nàng nghe như có tiếng sáo của Trương Chi rót vào tai, kể cho nàng nghe bao nỗi nhớ nhung vì xa cách. Đêm Mị Nương mất, người ta kể lại rằng có đôi hạc trắng bay từ dinh quan thượng thư về phía bến sông nơi ngày trước hai người thường thổi sáo,  ngâm vịnh thơ phú đảo ba vòng, kêu vang lên ba tiếng rồi bay về hướng tây mất hút. Bức chân dung treo trên tường cũng mờ dần nét vẽ rồi mất hẳn như chưa từng được ai đó đặt bút vẽ lên bao giờ.

Tháng 6/2013

NAB

* Tạm dịch:                  Đề chỗ đã thấy năm trước

                             Cửa nầy, năm ngoái, hôm nay

                      Hoa đào phản chiếu mặt ai ửng hồng

                             Mặt người giờ ở nơi nao?

                      Hoa đào vẫn đó, cười chào gió đông  (Thôi Hộ)

                                                 Trần Trọng San dịch